Hạt muối cắn đôi

QUỐC VŨ |

Bản Tăng Ta Lăng và Tăng Noong, huyện Đắc Chưng, tỉnh Sê Kông (Lào) nằm giáp biên với các xã biên giới La Êê, Chơ Chun (Nam Giang, Quảng Nam). Nơi đây, tình thân hữu của đồng bào hai bên biên giới vẫn ngày ngày “hạt muối cắn đôi, cọng rau bẻ nửa”.

Tác giả (ngoài cùng bên phải) cùng với gia đình Vi Say tại bản Tăng Noong.
Tác giả (ngoài cùng bên phải) cùng với gia đình Vi Say tại bản Tăng Noong.

Từ trung tâm huyện Đắc Chưng, để đến các bản Tăng Ta Lăng, Tăng Noong không dễ dàng gì. Chuyến đi trúng ngày mưa, chiếc xe máy ì ạch, lốp, xích dính chặt bùn đất nhích từng mét trên con đường trơn tuột. Xuất phát từ sáng sớm nhưng quá trưa mới vượt hết con đường dài 20km để đến được bản Tăng Ta Lăng. Dân ở bản rất chân tình mến khách. Người đi cùng làm phiên dịch là Trung úy Zơ Râm Pênh, cán bộ Đồn Biên phòng La Êê, Bộ đội Biên phòng (BĐBP) Quảng Nam. Với Zơ Râm Pênh, đến bản Lào cũng giống như đang ở nhà, đến đâu cũng chào hỏi người quen luôn miệng. Anh bảo: “Bà con các bộ tộc sống dọc biên bên này ngoài tiếng Lào họ còn sử dụng thêm tiếng Tà Riềng, Cơ Tu trong giao tiếp hằng ngày như đồng bào bên mình nên rất thuận lợi. Mỗi khi có chuyến công tác sang đây, bà con cũng đón mình như người thân gia đình”.

Có một điều dễ nhận thấy là trong các ngôi nhà của dân bản, thường treo ảnh Bác Hồ cùng Chủ tịch Cay-sỏn Phôm-vi-hản. Ông Phim Xinh - Bí thư Chi bộ thôn Tăng Ta Lăng khoe bức ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh treo trong nhà là do một người bạn bên huyện Nam Giang tặng. Bức ảnh có lâu lắm rồi và ông vẫn nâng niu gìn giữ như nâng niu chính tình bạn hữu hảo. Từng xông pha trận mạc, hết chiến trường bên Việt Nam rồi trên chính quê hương mình trong những năm hai đất nước cùng chống kẻ thù chung, ông hiểu rất rõ sự đoàn kết gắn bó sẽ không có thế lực thù địch nào chia cắt nổi. Ông còn kể cho chúng tôi nghe chuyện hồi ông đại diện cho dân bản Tăng Ta Lăng sang đỉnh đồi tranh thuộc thôn Ch’Nóc (xã Ch’Ơm, Tây Giang) ký biên bản kết nghĩa giữa các thôn bản hai bên biên giới (tháng 7.2012). Ngày ấy cờ Lào, cờ Việt tung bay trong gió, nhân dân hai bên biên giới nô nức đến dự chật cả quả đồi. “Sự kiện đó tôi biết không ai có thể quên được, bởi lễ kết nghĩa đó là minh chứng cho tình cảm gắn bó mật thiết và lâu đời của đồng bào hai dân tộc” - ông Phim Xinh nói.

Rời bản Tăng Ta Lăng, băng rừng thêm gần 2 tiếng đồng hồ, chúng tôi đến bản Tăng Noong, nơi Đội Liên hợp cắm mốc biên giới hai tỉnh Quảng Nam - Sê Kông thường tá túc mỗi khi đi khảo sát và thi công các cột mốc. Anh Vi Say - Xã đội trưởng bản Tăng Noong niềm nở đón khách. Biết Vi Say từ trước, bởi nhà Vi Say là “đại bản doanh” của Đội Cắm mốc tỉnh Quảng Nam mỗi khi đoàn đến. Vì thế dù đã hai năm kể từ ngày tôi theo Đội Liên hợp cắm mốc biên giới hai tỉnh vào bản tá túc nay mới gặp lại nhưng Vi Say vẫn nhớ cái đêm cùng tôi uống tà vạt trên sàn bếp nhà anh. Nhớ viên thuốc sủi Panadol tôi đưa khi anh bị sốt. Rồi chuyện về BĐBP Việt Nam chữa rắn cắn cho thằng Vi Ban con của anh, chuyện anh lặn lội 4 ngày trời xuống tận các cụm bản gần trung tâm huyện Đắc Chưng (Sê Kông) mua trâu... cứ thế tiếp diễn làm can tà vạt có vị cay nồng nhưng ngọt bùi đầu lưỡi dần vơi.

Đêm ấy chúng tôi ở lại bản Tăng Noong, ông Thọn Khăm - Chủ tịch Mặt trận của bản nằng nặc đòi tôi cùng Trung úy Zơ Râm Pênh sang nhà chơi, bởi ông còn rất nhiều chuyện chưa kể về những người bạn Việt Nam. Với phong cách hài hước, dễ gần, ông khoe rằng, ngày trước chuyện ông đi chơi qua lại các thôn Ch’Nóc, Đắc Ngọn bên Quảng Nam như cơm bữa. Đến vụ mùa là ông sang giúp anh em bên đó rồi ở lại vui chơi cả tuần, bây giờ lớn tuổi, chân yếu nên ít đi, nhớ lắm. Ở bản Tăng Noong, ông làm Chủ tịch Mặt trận nhưng món ông giỏi lại là thợ rèn. Nghề của ông nức tiếng khắp vùng. “Cán bộ Chương (chuyên viên kỹ thuật Đội Cắm mốc Quảng Nam - NV) còn đặt hàng cho mình mang về Việt Nam nữa đấy, nổi tiếng chưa” - ông Thọn Khăm hóm hỉnh cười khoe.

Chỉ là những câu chuyện góp nhặt trong các chuyến công tác theo dọc đường biên nhưng nó chứa đựng tình cảm, biểu tượng gắn bó thủy chung giữa nhân dân hai bên biên giới, giữa tình đoàn kết gắn bó của hai dân tộc. Đó chính là sức mạnh tạo nên một đường biên giới hòa bình, hữu nghị và không thế lực nào có thể chia cắt nổi.

QUỐC VŨ