Nghĩ trên đường nông thôn

TRƯƠNG ĐIỆN THẮNG |

Gần hai mươi năm nay, nhờ phong trào bê tông hóa giao thông nông thôn, Quảng Nam đã cơ bản giải quyết tình trạng mưa bùn nắng bụi của hàng trăm con đường không chỉ ở các huyện đồng bằng mà cả ở các xã trung du miền núi. Bây giờ, khái niệm “có đường đến trung tâm xã” đối với nhiều vùng đã trở thành… cổ tích, bởi cả những đường xóm, liên xóm cũng được bê tông hóa thẳng tắp, rộng rãi, có thể chạy ô tô về tới nơi.

Ông Nguyễn Xuân Phúc, thời còn làm Chủ tịch UBND tỉnh từng nói với người viết, như một lời trách: “Ở đô thị, chỉ cần khánh thành một cây cầu thì báo chí trung ương, địa phương, truyền hình xúm vô đưa tin. Quảng Nam quá rộng từ ven biển, đồng bằng đến miền núi… ngày nào cũng có những con đường mới đưa vào sử dụng, không thấy báo chí nói một tiếng!”. Đúng là như vậy! Báo chí tập trung nhiều ở thành phố và phần lớn phát hành ở thành phố. Phóng viên thì khó có điều kiện đi về vùng sâu, vùng xa, nếu không có được thông tin chính xác về các sự kiện, hay nại vì “không thấy giấy mời!, không có xe đưa đón!”. Quảng Nam thì không chỉ trải rộng nhiều vùng mà việc đi lại cũng chưa phải dễ dàng vào thời kỳ ông Phúc làm chủ tịch tỉnh.

Với phong trào làm giao thông nông thôn rầm rộ, xã thôn nào cũng hứng khởi. Nhà nước đầu tư xi măng, thậm chí mua chịu xi măng của các nhà máy để đáp ứng nhu cầu quá bức thiết của người dân. Huyện nào, xã nào, thôn xóm nào cũng rầm rập người, máy san ủi, trộn bê tông làm đường. Nhiều người thân ở thành phố, chủ nhật về quê cũng hăng hái đóng góp thêm tiền để bà con mua thêm cát sạn, xăng dầu hoặc cho cánh nông dân là bà con mình “uống nước nửa buổi” khi làm đường. Dân Quảng hoãn việc đồng áng, chuyện nhà, đóng góp công sức, tiền mua vật tư làm đường. Theo tôi, phong trào nông dân làm giao thông nông thôn trong nhiều năm ở Quảng Nam là một phong trào thực chất xuất phát từ quyền lợi thiết thân của dân chúng.

Nhưng, cái gì cũng có mặt trái của nó.

Làm đường ở nông thôn thiếu hẳn một quy hoạch chi tiết: Không xác định được cao trình chuẩn trên từng địa bàn. Cứ ủi, dọn bằng nền con đường đã có rồi đổ bê tông lên, để “mùa mưa không bị bùn” là được. Không có rãnh thoát nước, không lề đường. Đến khi nhà nước đầu tư các con đường nhựa liên xã chạy qua, thì những con đường bê tông đó thấp hẳn và đọng nước như ao tù, hư lở nhiều đoạn do nền đường quá sơ sài. Nhiều đoạn đường thưa thớt dân cư lại không đủ “vốn đối ứng”, phải để lại, vì địa phương không có ngân sách.

Nhiều địa phương còn buông lỏng quản lý, không giám sát, khiến định mức xi măng bị cắt xắn tùy tiện dẫn đến chất lượng nhiều con đường quá kém, lề đường, rãnh thoát nước không đủ tiêu chuẩn... Quản lý giao thông nông thôn cũng là bài toán không đơn giản ở địa phương. Đường nhỏ, yếu như nêu trên lại chịu những loại xe ben, xe trọng tải lớn đi vào. Lập barie thì bị phê bình là ngăn sông cấm chợ. Không ngăn thì đường lại hư hỏng, thiếu kinh phí bảo dưỡng. Nhiều vùng nông thôn như vậy, sau khoảng 5 - 10 năm đường sá lại hư hỏng, lô nhô lở lói.

Từ thành công ban đầu, trong hơn thập niên qua, mỗi năm Quảng Nam đầu tư tiếp hàng trăm tỷ đồng để hoàn thiện mạng lưới giao thông cho các khu dân cư mới, cho vùng sâu vùng xa. Nhưng thực tế ở nhiều địa phương, quy hoạch chi tiết về giao thông vẫn chưa làm xong, nên vẫn “bổn cũ soạn lại”. Trong khi nhiều nơi ở các xã trọng điểm xây dựng nông thôn mới, đường sá mở ra 7 - 9 mét, thì có những con đường mới làm cũng chỉ…3 mét. Ngân sách đầu tư sửa chữa, bảo dưỡng những con đường cũ (như nói trên) lại đặt trên vai địa phương và… bí vì tiền! Mà tiền này thì chính quyền cấp tỉnh, cấp huyện hay ngành giao thông lại càng không có. Tôi dự nhiều cuộc họp hội đồng nhân dân cấp xã hoặc nghe các anh chị làm việc ở nhiều địa phương, khi đề cập câu chuyện này, cũng… bó tay! Mà ở địa phương, theo tôi quan sát, “tư duy nhiệm kỳ” hiện nay là một biểu hiện khá phổ biến.

Để giải quyết bài toán này, theo tôi, vẫn có cách. Trước hết, phần thu lệ phí giao thông dành cho xe máy hiện nay có thể đề nghị dành lại để cấp cho xã dùng làm quỹ bảo dưỡng đường giao thông nông thôn. Thứ hai, địa phương có thể vận động các hộ, gia đình có xe tải, ô tô tại chỗ hoặc thường đi về ủng hộ vào quỹ bảo dưỡng giao thông nông thôn của địa phương. Vấn đề là cách vận động và quản lý sao cho minh bạch, công bằng. Đặc biệt, cần phát huy vai trò của hội đồng nhân dân cấp xã trong việc đề xuất chủ trương và giám sát thực hiện.

TRƯƠNG ĐIỆN THẮNG