Quy hoạch bảo tồn và phát triển cây dược liệu: Cần khả thi, sát thực tiễn

;
Thứ Sáu, 03/11/2017, 12:11 [GMT+7]

Dự thảo “Quy hoạch bảo tồn và phát triển cây dược liệu trên địa bàn tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2017-2025, định hướng tới 2030” vừa được tổ chức lấy ý kiến của Hội đồng phản biện tỉnh, các địa phương, sở ngành liên quan. Nhiều ý kiến cho rằng, vẫn còn nhiều vướng mắc, tồn tại cần làm rõ để xác lập cơ sở vững chắc, đảm bảo tính khả thi của quy hoạch.

Vườn ươm ba kích tím ở xã Lăng, Tây Giang. Ảnh: HOÀNG LIÊN
Vườn ươm ba kích tím ở xã Lăng, Tây Giang. Ảnh: HOÀNG LIÊN

Tham vọng với cây dược liệu!

Theo PGS-TS. Trần Thị Thu Hà (Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên), qua các nghiên cứu cho thấy, Quảng Nam có 832 loài dược liệu thuộc 593 chi, 190 họ, trong đó phần lớn là những loài dược liệu mọc tự nhiên. Đặc biệt, một số loài quý hiếm như sâm Ngọc Linh, quế Trà My, sa nhân, ngũ vị tử, giảo cổ lam, ba kích, đẳng sâm… chiếm đến 95% diện tích trong tổng số 6.500ha phân bố cây dược liệu mọc tự nhiên và trồng ở miền núi (tập trung ở Nam Trà My, Tây Giang, Đông Giang, Bắc Trà My). Các loài chủ lực, có diện tích phân bố lớn là ba kích tím, đẳng sâm, sa nhân tím, đương quy, giảo cổ lam, quế Trà My, sâm Ngọc Linh. Các loài ba kích tím, đẳng sâm, quế Trà My, sâm Ngọc Linh hiện có diện tích phân bố từ hàng trăm héc ta lên tới hàng nghìn héc ta dưới tán rừng. Nhiều loài khác như chè dây, ngũ vị tử, mật nhân, bạc hà… có diện tích lớn phân bố ở Tây Giang, Nam Trà My, Đông Giang. Tại các huyện Tiên Phước, Nông Sơn, Hiệp Đức, Phú Ninh, Đại Lộc có các loài đinh lăng, cà gai leo, xạ đen, nghệ… song diện tích nhỏ, manh mún.

Cũng theo PGS-TS. Trần Thị Thu Hà, dù có thế mạnh về cây dược liệu, song ở Quảng Nam nguyên liệu dược liệu vẫn chủ yếu khai thác tự nhiên tới cạn kiệt, trong khi diện tích trồng còn manh mún, nhỏ lẻ. Do đó, cũng như các địa phương khác trong cả nước, ở Quảng Nam ngành sản xuất dược liệu làm nguyên liệu thuốc, thực phẩm chức năng và các cơ sở y học cổ truyền không chủ động được nguyên liệu, mà phần lớn nhập nguồn dược liệu của Trung Quốc với công tác kiểm định chất lượng còn bị thả nổi. Tại Quảng Nam hiện chỉ có Công ty CP Thương mại dược sâm Ngọc Linh là đơn vị chuyên thu mua, chế biến các sản phẩm từ sâm Ngọc Linh (lá, rễ, củ), đẳng sâm, ba kích tím… Vậy nên quy hoạch lần này cần phải từng bước tháo gỡ những bất cập, để tạo nguồn nguyên liệu ổn định, bền vững phục vụ ngành y học và sản xuất thuốc, thực phẩm chức năng, tạo đà cho công nghiệp dược liệu của tỉnh phát triển, đẩy mạnh xuất khẩu.

Dự thảo quy hoạch hướng tới bảo tồn và khai thác hợp lý dược liệu tự nhiên; trồng dược liệu ở 3 tiểu vùng trọng điểm gồm núi cao, trung du và đồng bằng ven biển với 11 loài dược liệu thế mạnh của tỉnh gồm: đẳng sâm, ba kích tím, sa nhân tím, đương quy, giảo cổ lam, lan kim tuyến, nghệ, cà gai leo, đinh lăng… Một số vườn ươm giống, vườn bảo tồn giống dược liệu vừa và nhỏ sẽ được hình thành tại một số huyện trọng điểm về cây dược liệu. Một vườn bảo tồn và phát triển cây thuốc quốc gia đại diện cho khu vực miền Trung và Tây Nguyên (bảo tồn, phát triển nguồn gen đặc hữu) được quy hoạch tại Nam Trà My. Hệ thống nhà máy sơ chế, chế biến các sản phẩm từ cây dược liệu cũng được quy hoạch nằm rải rác ở 3 tiểu vùng núi cao, trung du và đồng bằng, tạo chuỗi liên kết sản xuất, chế biến tới tiêu thụ…

Cần tính khả thi

Theo dự thảo quy hoạch, mục tiêu đến năm 2025 hình thành 38.423ha trồng dược liệu tập trung, trong đó 60% diện tích và sản lượng cây dược liệu vùng quy hoạch đảm bảo tiêu chuẩn thực hành tốt trồng trọt và thu hái cây thuốc của Tổ chức Y tế thế giới (GACP-WHO).

Tại hội thảo, có nhiều ý kiến thẳng thắn chỉ ra những điểm còn tồn tại, vướng mắc cần làm rõ trong dự thảo. Đó là, cần làm rõ vai trò của Sở Y tế trong phát triển cây dược liệu gắn với y học, với thị trường thuốc, thực phẩm chức năng. Việc quy hoạch cây dược liệu cần phải tuân thủ đặc tính thích nghi, sinh trưởng với vùng trồng đặc thù, tuân thủ kế hoạch phát triển cây dược liệu của địa phương. Ông Hồ Quang Bửu - Chủ tịch UBND huyện Nam Trà My cho rằng, dự thảo quy hoạch quá rộng, quá ôm đồm, trong khi ngân sách nhà nước chỉ chiếm khoảng 600 tỷ đồng, quá thấp trong tổng nguồn lực hàng nghìn tỷ đồng xã hội hóa theo dự thảo. Cũng theo ông Bửu, tương lai, khi doanh nghiệp vào đầu tư vùng trồng và chế biến dược liệu, họ sẽ phải đóng thuế cho tỉnh, sẽ không nhỏ. Vậy nên cần đầu tư mạnh cho cây dược liệu, có cơ chế đặc thù thu hút doanh nghiệp vào đầu tư.

Bà Phan Thị Á Kim - Phó Giám đốc Sở Khoa học và công nghệ đặt vấn đề, để sản phẩm dược liệu đầu ra đạt chuẩn GACP-WHO, đòi hỏi ngay từ ban đầu khâu giống cũng phải chuẩn. Trong khi giữa yếu tố đầu vào (giống) và đầu ra (sản phẩm) theo dự thảo quy hoạch có sự chênh lệch. Quy hoạch đặt ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2025 cung ứng được 60% nguồn giống, đến năm 2030 là 80% nguồn giống sạch bệnh, có năng suất, chất lượng cao, song lại đặt ra mục tiêu đảm bảo 100% diện tích và sản lượng dược liệu của vùng quy hoạch đạt chuẩn GACP-WHO là chưa đảm bảo. Chưa kể, việc xây dựng nguồn giống đạt chuẩn GACP-WHO không phải dễ trong một sớm một chiều. Với 11 loài được ưu tiên phát triển ở 3 tiểu vùng, cần có điều tra, đánh giá sơ bộ tính thích nghi của từng loài; có giải pháp quản lý giống, kỹ thuật sản xuất, kỹ thuật phòng bệnh cho cây theo tiêu chuẩn GACP-WHO cũng như kế hoạch đăng ký chất lượng vùng trồng, quản lý và phát triển thương hiệu, xây dựng chuỗi sản phẩm hàng hóa vùng trồng.

Sau khi nghe các ý kiến góp ý, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Trí Thanh cho rằng, quy hoạch cần mang tính định hướng, vừa chặt vừa mở, để chủ động về sau. Không nên quy hoạch từng đối tượng riêng lẻ, mà quy hoạch theo từng nhóm cây dược liệu, nghĩa là quy hoạch các loài có cùng đặc tính sinh trưởng, phát triển, thích nghi vào một nhóm, giúp chủ động về mặt thị trường tiêu thụ. Quy hoạch cũng cần phân chia theo địa hình, theo vùng, tiểu vùng; cần bổ sung làm rõ loài nào trồng tập trung, loài nào trồng phân tán, loài nào phát triển ngoài trời, dưới tán rừng. Về nguồn lực, Phó Chủ tịch Lê Trí Thanh định hướng, cần phân rõ nguồn lực ngân sách (tỉnh, trung ương) và nguồn xã hội hóa theo hướng tăng huy động nguồn lực xã hội hóa, giảm ngân sách nhà nước. Với ngân sách nhà nước, nên phân chia nguồn lực theo nhiều giai đoạn, tránh phân bổ tập trung e sẽ khó kham nổi. Cả nguồn lực xã hội hóa từ doanh nghiệp, cũng cần làm rõ thêm, nguồn doanh nghiệp đầu tư 100% vốn, hay nhà nước và doanh nghiệp cùng đầu tư theo hình thức hợp tác công tư... để có cơ sở, nền tảng khả thi trong thực hiện.

HOÀNG LIÊN

.
.
.
.
.