Quảng Nam qua một tập ký sự xưa

;
Chủ Nhật, 15/04/2018, 08:55 [GMT+7]

Trong cuốn “Tư liệu thư tịch và di tích về nhân vật lịch sử Bùi Tá Hán” (Sở VH -TT tỉnh Quảng Ngãi xuất bản năm 1996) có in chính văn (chữ Hán) một tư liệu xưa là “phủ tập Quảng Nam ký sự” (sau đây gọi tắt là Ký sự) . Tư liệu này do một người họ Mai (Mai thị) biên soạn vào khoảng niên hiệu Chánh Trị đời Lê Anh Tông (1558 - 1571).

Bìa cuốn sách có phụ lục nguyên bản chữ Nho “Phủ tập Quảng Nam ký sự” do Sở Văn hóa Thông tin Quảng Ngãi xuất bản năm 1996 . ảnh: Phú Bình
Bìa cuốn sách có phụ lục nguyên bản chữ Nho “Phủ tập Quảng Nam ký sự” do Sở Văn hóa Thông tin Quảng Ngãi xuất bản năm 1996 . ảnh: Phú Bình

Di dân, sắp xếp  ruộng đất

Đây là chuyện kể về ông Bùi Tá Hán (1496 - 1568) người đã khuông phù nhà Lê trung hưng dựng nghiệp ở Thanh Hóa (1533). Năm 1545, vua Lê Trang Tông phong cho ông chức Bắc quân Đô đốc Chưởng phủ sự Trấn quốc công và phái mang quân vào đánh dẹp quân nhà Mạc ở thừa tuyên Quảng Nam.

Tháng 8.1545, Bùi Tá Hán xuất quân từ cửa biển Hội Thống vùng Thanh Nghệ, vào đến vùng biển Quảng Nam - Quảng Ngãi thì chia quân làm 2 cánh: một cánh đổ bộ vào Cù Lao Ré (Lý Sơn) rồi vào đất liền; cánh kia tập kết vào bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng) rồi phân làm 2 chi: “Một chi phối hợp với quân đội ở đồn điền Phú Ninh chốt giữ đò Bến Ván”, “một chi phối hợp với quân binh đồn điền Tân Phước, dùng sức mạnh đánh chiếm huyện lỵ Bình Sơn, chốt giữ bến đò Châu Ổ”. Trước đó, sách này cũng kể là “Ngày bảy tháng Tám (năm Ất Tỵ 1545) các đồn điền Phú Ninh, Liên Chiểu, Tài Đa đều dựng cờ khởi nghĩa…” (Ký sự, tờ 3b, bản chữ Hán). Các địa danh nêu trên gần như trùng với các địa danh xưa ở Quảng Nam - Đà Nẵng  như: Liên Chiểu (Đà Nẵng); Phú Ninh (vốn tên gốc là Tân Ninh, sau đổi thành Phú Ninh do kiêng húy vua Lê Kính Tông 1600 - 1619); Tân Phước (tên xưa của vùng Tiên Phước khi chưa đổi vì kỵ húy); Tài Đa (tên một làng nay thuộc huyện Tiên Phước); Bến Ván (Núi Thành).

Ký sự cho biết Bùi Tá Hán đã sắp xếp lại ruộng đất ở các đồn điền do quân đội cai quản: ruộng đất do các đồn điền này khai vỡ đều xếp vào loại công điền. Ruộng công này sẽ được cấp cho quân lính thuộc đồn điền “muốn giải ngũ nhập tịch với xã sở tại” “để họ làm ăn sinh sống” hoặc “giao cho các thôn xã sở tại phân cấp cho quân dân cày cấy chịu tô thuế”. Qua các chi tiết này, có thể thấy, trước khi quân của Bùi Tá Hán vào, tại vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi đã có nhiều đồn điền như Liên Chiểu, Tài Đa, Phú Ninh, Tân Phước, Năng Bân, Văn An, Long Phụng, Vạn Phước, Thi Phổ… và nhà Mạc sử dụng lực lượng quân lính đồn trú ở đồn điền khai khẩn đất đai để tự canh tác và cai quản. Điều này hoàn toàn phù hợp với các mô tả trong Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên nói về chính sách của vua Lê Thánh Tông lưu quân binh ở lại lập đồn điền để “vừa khai khẩn vừa canh phòng” trên vùng đất phía nam đèo Hải Vân vừa mới tái thu phục từ sau cuộc nam chinh 1470.

Ký sự cũng kể “Từ sau ngày miền đất Quảng Nam được vỗ yên, nông dân nghèo ở các xứ Thanh Ba, Nghệ An, Hải Dương lũ lượt kéo nhau vào đây để vỡ ruộng lập làng”. Cuộc di dân đã góp thêm một lực lượng dân cư hùng hậu làm chỗ dựa cho sức mạnh các chúa Nguyễn Đàng Trong trong quá trình nam tiến sau này. Nguyên ủy của đợt di dân này đã được sách ấy ghi lại như sau: Khi nhận được tin đô đốc Bùi Tá Hán thu hồi được vùng “trấn Quảng Nam” từ tay nhà Mạc (1545), triều đình vua Lê Trang Tông (1533 - 1548) đã quyết định “Quảng Nam địa quảng điền phì nhi hộ hy nhơn thiểu, lánh di nhất tá bần chi canh dân tỉ cư sanh lý, phả hữu tích trữ lương thực dĩ đồ cửu kế” (Quảng Nam đất rộng mà hộ hiếm người ít, (ta) riêng đưa một số dân làm ruộng nghèo (đến đó) (họ sẽ) phát triển gấp nhiều lần, có thể tích trữ lương thực (để ta có thể) mưu đồ kế (khôi phục) lâu dài - NV dịch - tờ 15a, bản chữ Hán).

Hình thành tập quán

Tình trạng các di dân buổi đầu vào Quảng Nam cũng được sách này mô tả khá chi tiết: “Quan huyện ở các địa phương phụ trách việc tiếp dân và điều hành công việc. Hộ nào đến trước thì ở nhờ vào địa phận xã có đồn điền của quân đội. Quan huyện xuất kho trợ cấp mỗi hộ 5 tháng lương ăn. Quân đội ở các đồn điền chặt gỗ trong rừng, cắt tranh trên núi làm nhà ở, giao cho mỗi hộ tạm thời sử dụng. Trích ruộng thục điền trong số ruộng đất ở các đồn điền giao cho mỗi hộ một ít để tạm thời canh tác. Khuyên mọi người cày trồng khoai lang, rau ngắn ngày để sau ba tháng có hoa lợi dùng. Khuyên nhà quan, nhà dân, không luận giàu nghèo, mỗi khi nấu cơm nên ghế thêm (hai phần mười) khoai lang hoặc bắp thay gạo” (tr.25, 26). Đây là những đoạn tư liệu rất quý giá giúp người Quảng Nam - Quảng Ngãi đời sau hình dung được tình cảnh tổ tiên từ đất Bắc buổi đầu vào xứ Quảng dựng nghiệp.

Ký sự còn cung cấp cho người Quảng thời nay là biết về các quy định do ông Bùi Tá Hán đề ra đã là nguồn gốc của một số tập quán đặc trưng vùng miền như: “làm nhà kiểu tám cột ba gian lợp bốn tấm rui vuông bốn góc”; “phụ nữ không dùng quần không đáy (mà) đồng loạt dùng quần như nam giới, nhuộm đà hoặc chàm để phân biệt nam, nữ”; “Làm nồi đồng, nồi đất, ở cổ có lỗ quay, dùng đũa bếp mà bưng xuống tiện việc đun nấu”( tr.26). Đọc đến đoạn này, hẳn nhiều người không khỏi mỉm cười ý nhị khi nhớ đến câu thành ngữ nói về sự khác biệt với tập quán xứ Bắc thời xưa: “nhà không chái, đái không ngồi (giễu đàn bà mặc váy - NV), nồi không quai”. Những điểm khác biệt còn có thể thấy thêm ở một số quy định mà Bùi Tá Hán đề ra cho cư dân Quảng Nam vào hạ bán thế kỷ 16 như sau: “cày bừa đều dùng ách mắc 2 trâu kéo; trên mỏ cày có thêm trạnh phụ”; “ngăn sông làm bờ xe nước để đưa nước vào ruộng”; “làm thuyền nan trét dầu rái để thay thuyền ván” (tr.26, 27).

Ngoài ra, Ký sự còn cho biết thêm một số điều mà Bùi Tá Hán áp dụng như việc chăm sóc sức khỏe: “mỗi xã thôn mời một thầy thuốc để chữa trị cho dân”; việc lập trường học “xã thôn nào hộ khẩu tăng nhiều… rước một thầy sinh đồ, lập nghĩa thục để dạy lễ nghĩa và văn học cho con em”; việc dựng đình chùa “Mỗi xã thôn (nên) lập đình, chùa để nhân dân cúng lễ”; hoặc việc giao thông “từ huyện Hy Giang (Duy Xuyên ngày nay - NV) đến huyện Tuy Viễn (Bình Định ngày nay - NV) cần đắp một con đường thiên lý rộng hai trượng rưỡi… cứ 17 lý đặt một nhà dịch trạm”; biết lai lịch về quy định đo đạc và phân hạng ruộng đất “khám đạc ruộng đất công cũng như tư, phân định các hạng để tiện việc thu thuế. Nên định mỗi sào mười lăm thước; ruộng (điền) chia làm ba hạng, đất (thổ) chia làm ba hạng” (bản dịch - tr.26, 27).

Trong điều kiện thiếu vắng tư liệu Hán Nôm để phục vụ công việc nghiên cứu lịch sử văn hóa địa phương, việc phát hiện ra tập Ký sự này thật là may mắn. Hẳn nhiên còn có nhiều điều cần phải tìm hiểu thêm về “hành trình” của tập ký sự này cũng như về những nội dung mà nó đề cập. Nhưng sự chân thực của những chi tiết lịch sử, xã hội, văn hóa, địa lý… thể hiện trong tập ký sự thật khó để mà hoài nghi và phản bác.

PHÚ BÌNH

.
.
.
.
.