An Hải - ngôi thành đã... mất dấu!

;
Chủ Nhật, 07/10/2018, 09:48 [GMT+7]

Điện Hải và An Hải là hai vị trí quan trọng nhất trong hệ thống phòng thủ ở cửa biển Đà Nẵng thời nhà Nguyễn. Hai ngôi thành này được xây dựng cùng một thời điểm bởi cùng một người. Nhưng đến nay số phận của nó lại hoàn toàn khác nhau. Điện Hải đã được công nhận là Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt trong khi An Hải đã… mất dấu theo thời gian!

Thành An Hải trong hệ thống phòng thủ Đà Nẵng (theo Võ Văn Dật).
Thành An Hải trong hệ thống phòng thủ Đà Nẵng (theo Võ Văn Dật).

Thành An Hải

Thành An Hải (người Pháp gọi là Pháo đài Đông - Fort de L’est) là một trong 2 vị trí quan trọng nhất của hệ thống phòng thủ Đà Nẵng dưới thời nhà Nguyễn (vị trí kia là thành Điện Hải, người Pháp gọi là pháo đài Tây - Fort de L’ouest). Thành An Hải được xây dựng cùng một lượt với thành Điện Hải vào năm Gia Long thứ 11 (1813), chỉ sau Tấn Đà Nẵng (nằm ở hữu ngạn sông Hàn, xây dựng năm 1802).
Việc xây dựng hai vị trí phòng thủ này thể hiện sự quan tâm của triều đình đối với công cuộc phòng thủ Đà Nẵng, một cửa biển quan trọng, là “cổ họng” để xâm nhập trung tâm quyền lực quốc gia là kinh đô Huế.

Sách Đại Nam nhất thống chí cho biết: “Thành An Hải ở phía hữu Tấn Đà Nẵng thuộc xã An Phúc, huyện Diên Phúc, chu vi 41 trượng 2 thước, cao 1 trượng 2 thước, chung quanh có hào sâu 1 trượng (4m), mở 2 cửa, dựng 1 kỳ đài và 22 ụ pháo đài. Năm Gia Long thứ 12 (1813) đắp bằng đất gọi là bảo An Hải, năm Minh Mạng thứ 11 (1830) xây bằng gạch, năm thứ 15 (1834) đổi làm thành” (Quốc sử quán triều Nguyễn, bản dịch của Viện Sử học, Nxb Thuận Hóa, 2006, tr.370).

Về việc xây dựng thành An Hải, sách Đại Nam Thực lục ghi: “Quý Dậu, Gia Long năm thứ 12… tháng 2… Đắp đài Điện Hải và bảo An Hải ở Quảng Nam (đài bên tả cửa biển Đà Nẵng, bảo bên hữu). Sai Nguyễn Văn Thành đi coi công việc. Công việc xong để lại 500 quân đóng giữ” (Quốc sử quán triều Nguyễn, Bản dịch của Viện Sử học, Nxb Giáo Dục, 2004, tập 1, quyển XLVI, tr.858).

Bảo An Hải được nâng lên thành thành vào năm 1834 do vị trí quan trọng của nó. Đại Nam Thực lục viết: “Trấn Hải đài ở Kinh và Điện Hải đài, An Hải đài ở Quảng Nam đều cho đổi là thành. Vua cho rằng các đài này đều có thành trì trấn ngữ hùng mạnh ở bờ biển, khác hẳn với các pháo đài khác nên đặc cách cho gọi là thành. Sau đó sai đổi phát ấn đồ ký bằng đồng cho ba thành nói trên” (Sđd, tập 4, quyển XLVII, tr.137).

Về quy mô, An Hải nhỏ hơn Điện Hải rất nhiều (Điện Hải có chu vi 139 trượng (653,3m) cao 1 trượng 2 thước, hào rộng 4 trượng 5 thước, sâu 7 thước, có 3 cửa, 1 kỳ đài và 30 ụ đại bác), nhưng về vai trò chẳng kém gì Điện Hải. Nó kết hợp cùng Điện Hải làm thành hai gọng kềm, kiểm soát và ngăn chặn tàu thuyền nước ngoài xâm nhập vào sông Hàn để đổ bộ lên Đà Nẵng, nên luôn có 200 quân đồn trú. Thành cũng được chọn làm vị trí tiền tiêu cho cả hệ thống phòng thủ.

Năm 1840, khi đi xem xét hệ thống phòng thủ Đà Nẵng, Tham tri bộ Công là Nguyễn Công Trứ đã đề nghị tăng cường quân số của thành An Hải ngang bằng với Điện Hải để tăng khả năng phòng thủ cửa biển Đà Nẵng.

Tham tri bộ Lễ Nguyễn Tri Phương khi đến nhậm chức Tuần phủ Quảng Nam đã nghĩ ngay đến việc chọn thành An Hải là nơi quan sát tàu thuyền trên vịnh Đà Nẵng và là nơi đầu tiên truyền tin cấp báo cho các nơi bằng cách treo cờ hiệu. Theo đó: “Khi binh sĩ quan sát bằng thiên lý kính, thấy ngoài biển xuất hiện tàu thuyền có nhiều dây (chỉ loại tàu buồm cỡ lớn) mà chưa phân biệt được đó là tàu nước ta hoặc tàu ngoại quốc và nếu chỉ có một vài chiếc thì treo cờ đỏ, nếu 3 - 4 chiếc trở lên thì treo cờ gấm đỏ trắng. Đến khi nhận diện được là tàu của nước ta thì hạ cờ đỏ xuống, treo cờ vàng lên. Còn nếu là tàu nước ngoài thì treo cờ gấm lam trắng (...). Trên Hải Vân quan khi nhìn thấy trên đồn An Hải có treo cờ gấm đỏ trắng hoặc lam trắng thì phải làm sớ hỏa tốc cho phu trạm chạy về cấp báo cho kinh đô. Mặt khác thành Điện Hải cũng có bổn phận phi báo về dinh Tuần phủ Quảng Nam (ở Vĩnh Điện) trong trường hợp như vậy”. (Võ Văn Dật, Lịch sử Đà Nẵng 1306 - 1975, Nxb Nam Việt, tr.179, 180).

Trong trận chiến năm 1858, ngay từ sáng ngày 1.9 Pháp đã cho đại bác bắn xối xả vào An Hải và Điện Hải với ý đồ dập tắt mọi sức phản công của các ụ súng đại bác của ta tại đây. Đến 10 giờ 30 kho thuốc súng ở thành An Hải bị trúng đạn đại bác từ pháo hạm Mittraille nhưng phải sáng ngày 2.9 thành mới lọt vào tay quân Pháp. Họ đã cho 2 đại đội lính Pháp và nửa đại đội lính Tây Ban Nha chiếm đóng thành này.

Mất dấu theo thời gian!

Ngày nay Điện Hải vẫn còn dấu tích nhưng An Hải đã mất dấu nên ít được nhắc đến.

Dựa vào một số bản đồ của người Pháp và các bản đồ in trong tập Lịch sử Đà Nẵng 1306 - 1975 của Võ Văn Dật ta có thể biết, thành An Hải ngày trước nằm ở vị trí đối xứng của thành Điện Hải qua sông Hàn và có lẽ theo tác giả này thì đó là vị trí An Đồn ngày nay. Phải chăng An Đồn chính là từ viết gọn của… đồn An Hải?

Về sự biến mất của ngôi thành này có tài liệu cho rằng do người Pháp phá khi rút quân khỏi Đà Nẵng vào tháng 2.1860: “Khác với thành Điện Hải ở bên tả ngạn, quân Pháp vẫn giữ nguyên, còn thành An Hải đã bị phá ngay sau khi quân Pháp rút khỏi Đà Nẵng (2.1860)” (Cổng thông tin điện tử thành phố Đà Nẵng). Nhưng sự thật không phải như vậy. Những bằng chứng sau cho thấy điều đó:

- Đại tá Henri de Ponchalon, người trực tiếp tham chiến ở Đà Nẵng từ đầu đến cuối, trong hồi ký của mình đã cho biết: “…Ngày 21.3.1860 đến giữa trưa các toán quân đã rút khỏi thành An Hải, đến 3 giờ thì kho thuốc súng ở đây được công binh thổi tung, họ đốt luôn những căn lều ăn ở khu vực pháo đài…” (Indochine, Souvenir de voyage  et de champagne, 1858 - 1860. Maison A. Mane et fils à tour, Paris, 1896. Bản dịch của Nguyễn Quang Trung Tuyến).

- Năm 1862, thành An Hải đã được đổi lại thành đồn để giảm bớt gánh nặng về quân số và trang bị khi không còn lo sợ người Pháp quay lại tấn công vào đây lần nữa vì triều đình đã ký Hiệp ước Nhâm Tuất cho phép người Pháp được tự do buôn bán ở Đà Nẵng.

- Năm 1864, khi triều đình Huế có ý định rút bớt quân và súng ở các vị trí phòng thủ tại Đà Nẵng thì hai vị quan là Hộ đốc Nguyễn Hiên và Bang biện Phạm Truân tấu trình nên để lại lính và súng ở đồn An Hải như cũ vì đây là vị trí quan yếu: “… Sau Hiên và Truân phúc tấu nói: đồn bảo ở nơi ấy có 10 nơi trong đó có 7 nơi quan yếu (Điện Hải, An Hải, Hóa Khuê thủy, Hóa Khuê cạn, Mỹ Thị, Cẩm Lệ và Phước Trạch) xin để lại lính và súng đóng giữ như cũ” (Sđd, tập 7, tr.868).

Vậy thì đồn An Hải mất dấu từ khi nào? Câu trả lời đang đặt ra cho các nhà nghiên cứu!

LÊ THÍ

.
.
.
.
.