Ký sự phục dịch ở An Nam

;
Thứ Bảy, 03/11/2018, 11:18 [GMT+7]

An Nam cung dịch kỷ sự (Ký sự phục dịch ở An Nam) là một tác phẩm du ký nổi tiếng của Chu Thuấn Thủy ghi chép về vùng Thuận - Quảng nói riêng và Đàng Trong nói chung vào thế kỷ 17, ra đời trước tác phẩm du ký Hải ngoại kỷ sự của Thích Đại Sán. Tác phẩm này là một tư liệu nước ngoài có giá trị về An Nam, Thuận - Quảng.

Sách Chu Thuấn Thủy tập.
Sách Chu Thuấn Thủy tập.

Tác phẩm này đã được GS-TS. Vĩnh Sính (Đại học Alberta, Canada) biên dịch, công bố từ năm 2001, in gộp trong sách Việt Nam và Nhật Bản giao lưu văn hóa. Sách được tái bản năm 2016. Đến tháng 9.2018, tác phẩm này lại được tách ra in riêng thành một đầu sách.

Tác phẩm của Chu Thuấn Thủy được in nhiều lần ở Trung Quốc (Chu Thuấn Thủy tập), Đài Loan (Chu Thuấn Thủy toàn tập), Hồng Kông (Chu Thuấn Thủy “An Nam cung dịch kỷ sự” tiên chú), và nghiên cứu bổ sung mới Tân đính Chu Thuấn Thủy tập. Công trình nghiên cứu mối quan hệ giữa Chu Thuấn Thủy với Nhật Bản hay Đông Á cũng được công bố thường xuyên, gần đây có: Chu Thuấn Thủy với sự phát triển nho học Nhật Bản cận thế, Chu Thuấn Thủy với văn hóa Đông Á…

Chu Thuấn Thủy (1600 - 1682), tên Du, là di thần, trưng sĩ của nhà Minh, nhưng vì Trung Quốc “đang bị suy vong, rợ ngoài vào chiếm quyền” nên “trốn sang nước ngoài, lưu ly đã có mười ba năm, vượt biển từ nước này sang nước nọ” (những trích dẫn ở đây do Vĩnh Sính dịch), sang Nhật Bản, đến Việt Nam, tới các nước Đông Nam Á khác. Ông đến Việt Nam 5 lần vào các năm 1646, 1651, 1652, 1653, 1654. Lần cuối cùng là ở lại lâu nhất, 1654 - 1658. Thời gian ở Quảng Nam, ông trú tại phố Nhật, thuê nhà chung với 3 người Nhật, chứ không phải phố Khách mặc dù ông là người Hoa. Mộ ông hiện ở Nhật Bản, bia mộ có ghi “Minh trưng quân tử Chu Tử mộ” (mộ của Chu Tử, người quân tử được nhà Minh vời ra giúp nước). An Nam cung dịch kỷ sự viết về những sự việc xảy ra khi Chu Thuấn Thủy bị quản thúc ở Hội An, rồi bị chuyển ra Dinh Cát chúa Nguyễn, rồi được cho về lại Hội An trong khoảng thời gian hơn hai tháng rưỡi vào năm 1657. Tác phẩm du ký An Nam cung dịch kỷ sự là một tư liệu nước ngoài có giá trị về An Nam, Thuận - Quảng.

Trước hết là những thông tin về chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần, Chu Thuấn Thủy nhận xét: “Quốc vương là người có kiến thức và kinh nghiệm phiến diện và nông cạn, nhưng tài khí lại gần như cao minh” và “Đại vương tư chất siêu phàm, hành động hợp với đạo nghĩa, những năm trước đây đã từng cư xử sự việc có đức có lễ, ngay cả những hiền vương ngày xưa hà tất đã hơn! (…) Đại vương làm việc ngay cả ban đêm, ngày đêm quên ăn quên ngủ, làm đơn giản và rõ ràng những việc cơ yếu, huấn luyện binh lính tinh nhuệ và cần mẫn, qua đó biết rằng ngày thắng lợi trong việc thảo trừ quân đại ác sẽ chẳng còn lâu”.

Chúa Nguyễn Đàng Trong đã chú trọng chiêu vời người hiền, An Nam cung dịch kỷ sự chép: “Viên Cai phủ vào ngày 29 tháng Giêng năm Đinh Dậu (1657) nhận được lệnh của Quốc vương ra hịch chiêu mộ người biết chữ”. Bản thân Chu Thuấn Thủy cũng “đột nhiên có hịch của An Nam Quốc vương chiêu vời”. Ông cũng được chúa Nguyễn dùng một số việc, cho nên trong tác phẩm, ông có nói đến việc “giấu đi một số chuyện cơ mật nhằm bảo vệ bí mật” mà không tiện viết vào/kể lại trong tác phẩm.

An Nam cung dịch kỷ sự cho biết chúa Nguyễn đặt chức Cai Tàu “là người cai quản những người Hoa và coi xem những việc tàu bè”. Hình thức xử tội của chúa Nguyễn được mô tả: “Ở đây cách chém người rất tàn khốc”, “trong khoảng 10 ngày, ngày nào cũng có người bị chém ở phía tây chỗ Du cư ngụ... Máu nhuộm bùn, cát; thịt người hóa thành mồi cho súc vật. Quang cảnh dã man tàn khốc chỉ nhằm hư trương uy vũ”.

Câu chuyện đối đáp của Chu Thuấn Thủy với viên quan họ Lê cho thấy viên quan này có đầy đủ các sách mà Chu Thuấn Thủy hỏi: “Thông giám cương mục, Tiền Hậu Hán thư, Nhị thập sử, Sử ký, Văn hiếu thông khảo, Kỷ sự bổn mạt, Tiềm xác loại thư, Phạn thư, Tạng thư và Cổ văn kỳ thưởng,…” và Chu Thuấn Thủy có ý định “xin mượn” “xem cho đỡ buồn”. Trong đoạn khác của An Nam cung dịch kỷ sự, Chu Thuấn Thủy cũng nhận định: “sau đó biết rằng nước này cũng có nhiều sách”. Điều này cho thấy thư tịch Hán văn cũng rất phổ biến ở vùng Thuận - Quảng, một vùng đất học đang phát triển dưới thời chúa Nguyễn.

An Nam cung dịch kỷ sự còn giá trị về mặt ngôn ngữ. Trong vương phủ, cách xưng hô giữa chúa và quần thần cũng hết sức “bình dân”, theo Chu Thuấn Thủy, chúa Nguyễn tự xưng là “tau” (tức là “tao”) khi nói chuyện với quần thần; hoặc giả chữ “mi” (tức là “mày”) cũng là cách gọi phổ biến của người trên với người dưới, không những trong dân gian mà cả trong phủ chúa. Cách xưng gọi “tau” “mi” này cũng là một trong những mục từ ghi chép của Alexandre de Rhodes cùng thời. Chu Thuấn Thủy nhận xét khi đọc bức thư của Quốc vương lệnh ông ra làm quan: “chữ nghĩa (tự nghĩa) và câu văn (cú ngữ) có nhiều chỗ là chữ An Nam, so với chữ Trung Hoa không giống nhau”. Vĩnh Sính chú thích “chắc hẳn lá thư này dùng nhiều chữ Nôm và nhiều nơi viết theo cú pháp tiếng Việt”. Đây là những dữ liệu để nghiên cứu về chữ Quốc ngữ, tiếng Việt vào giai đoạn sớm từ thế kỷ 17. Phương thức giao tiếp giữa Chu Thuấn Thủy với Quốc vương hay nhiều người liên quan là sử dụng phiên dịch, song vì phiên dịch không truyền đạt hết ý, nên mọi người thường sử dụng phương thức bút đàm chữ Hán. Đây là một phương thức giao tiếp quốc tế phổ biến của người đất Quảng trong lịch sử.

An Nam cung dịch kỷ sự cũng phản ánh những mặt hạn chế trong đời sống xã hội đương thời: Tình hình trộm cắp: “Du về đến Hội An, đồ đạc trong nhà bị kẻ trộm vào lấy sạch trơn (…). Đồ quý không còn gì cả (…). Cảnh sắc trông quá ư thảm đạm”. Hiện tượng viên Cai phủ “dập đi không công bố” hịch chiêu mộ người biết chữ của Quốc vương và còn “bắt giam tạm thời những người biết chữ và đối đãi với những người này như giặc nước ngoài”, thậm chí còn ngăn cản người biết chữ “không được phép đến trình với bề trên trực tiếp”. Tình trạng phân biệt, sính bằng cấp, “xem trọng tiến sĩ” và sự “làm nhục” nhau của những người có học thức, hay sự ngạo mạn như “có một thiếu niên, chức cấp nhỏ, trông có vẻ dương dương tự đắc dẫn một số người” đi đánh đố kiến thức với Chu Thuấn Thủy.

Chu Thuấn Thủy, một người có sở học, 5 lần đến Việt Nam, thời gian kéo dài 12 năm nhưng vẫn không có đất dụng võ, phải bỏ sang Nhật và giúp Nhật phát triển. Đó là một sự tiếc nuối của nhiều học giả Việt Nam về sau khi nghiên cứu về Chu Thuấn Thủy. Song, cũng may ông đã để lại cho Việt Nam một sử liệu thế kỷ 17 giá trị thông qua tác phẩm An Nam cung dịch kỷ sự.

 NGUYỄN DỊ CỔ

.
.
.
.
.