Ai là tri kỷ cùng ta cạn một hồ trường

;
Thứ Hai, 22/04/2019, 11:03 [GMT+7]

Trong tác phẩm “Hạn mạn du ký” nổi tiếng của mình, Nguyễn Bá Trác - quê làng La Hòa, xã Điện Phước, thị xã Điện Bàn, có dịch khúc hát của một người đồng hương tác giả gặp ở Thượng Hải, cùng trong cái cảnh đào vong vì quốc sự, thường nghêu ngao hát những lúc mượn chén tiêu sầu nơi lữ điếm.

Bài ca ấy độc giả bấy giờ và nhất là những người cách mạng lớp sau, ai cũng thích, thường học thuộc và ngâm nga... Đó là “Phương Nam ca khúc” sau này người đọc gọi bằng cái tên khác “Hồ trường”. “Hồ trường” của Nguyễn Bá Trác dịch ra Việt văn là một khúc hát bi tráng mà khẳng khái, là thân phận của đại trượng phu thời tao loạn. Điều ngạc nhiên là khúc hát này đã vô tình hay hữu ý vận vào số phận một người bạn tâm giao của tác giả nơi quê nhà. Đó là cử nhân Mai Dị ở làng Nông Sơn, tổng An Thái, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, người đau đáu chí hướng canh tân qua hai cuộc Duy Tân của thời đại ông…

Làng Nông Sơn, xã Điện Phước, thị xã Điện Bàn, với những xóm mạc được bao bọc bởi những hàng cau xanh mướt mát và không gian quê kiểng được ướp bằng nồng nàn hương lúa đang vào mùa gặt. Từ nhà thờ họ Mai, ông Tăng Xuyên (hiện trú tại Minh Hương, TP.Hội An) - cháu ngoại cử nhân Mai Dị - đưa tôi đi qua những con đường ngang dọc của làng để đến khu vườn ngày xưa gia đình ông ngoại mình ở. Mảnh đất rộng, chạy dài mấy trăm mét, phủ đầy cây xanh và thấp thoáng những ngôi nhà mới này… cách đây hơn một trăm năm đã in đậm bóng dáng Mai Dị và người bạn thân Nguyễn Bá Trác mỗi sớm, mỗi chiều. Mai Dị sinh năm 1880 là con của Tú tài Mai Luyện - từng tham gia Nghĩa hội Quảng Nam dưới thời Nguyễn Duy Hiệu bị hài tội “chết không được lập bia”. Mẹ ông là bà Huỳnh Thị Lý, người làng Minh Hương, Hội An, rất đảm đang và cũng rất kiên cường. Còn Nguyễn Bá Trác sinh năm 1881, người làng La Hòa cùng xã. Ông Tăng Xuyên cho biết, trước đây có nghe cha mẹ kể lại rằng, gia đình ông ngoại ngày xưa cũng thuộc hàng khá giả trong làng, trong tổng nên ông ngoại có cuộc sống đủ đầy. Còn Nguyễn Bá Trác thì nhà nghèo, việc học gặp nhiều khó khăn. Vì chơi thân với nhau từ nhỏ, nên Mai Dị thường rủ bạn về nhà mình, nhiều khi ở luôn đó vừa học hành, ôn luyện vừa luận bàn thời cuộc và tìm đọc tân thư của các nhà tư tưởng Trung Hoa nổi tiếng thời bấy giờ như Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu. Tình bạn của hai ông ngày càng trở nên khăng khít, tâm đầu ý hợp bởi cái chí của kẻ học hành luôn nghĩ suy trăn trở về vận mệnh đất nước. Năm Kỷ Mão 1906, Mai Dị và Nguyễn Bá Trác lên đường ra kinh đô dự thi và cả hai đều đổ cử nhân. Từ đây, cuộc dấn thân của Mai Dị và Nguyễn Bá Trác với phong trào Duy tân trong sứ mệnh của những sĩ phu yêu nước càng trở nên rõ ràng và mạnh mẽ hơn. Chỉ có điều, sự lựa chọn ban đầu của hai ông là giống nhau nhưng về sau lại có nhiều khác biệt…

Trong bài viết “Lịch sử tóc ngắn” của học giả Phan Khôi có đề cập đến việc Mai Dị và Nguyễn Bá Trác đã tích cực hưởng ứng phong trào Duy tân trên quê hương xứ Quảng bằng việc hăng hái tham gia phong trào cắt tóc ngắn mà ông Phan Chu Trinh đề xướng. Đó là câu chuyện ông Phan Khôi, Phan Chu Trinh, Mai Dị và Nguyễn Bá Trác vào mùa đông năm 1906 đã cùng nhau làm cuộc dong thuyền trên sông Thu Bồn để đến làng Gia Cốc (thuộc xã Đại Minh, huyện Đại Lộc ngày nay) thăm ông Học Tốn - chủ một trang trại là cơ sở hậu thuẫn cho phong trào Duy tân. Tại đây, các ông đã tổ chức cuộc vận động hớt tóc ngắn, trong đó ông Mai Dị và Nguyễn Bá Trác là những người xung phong hớt trước, và liền sau đó phong trào này lan rộng ra nhiều nơi ở Quảng Nam mà đặc biệt là trong giới sĩ phu yêu nước có tư tưởng tiến bộ lúc bấy giờ. Sau cuộc vận động hớt tóc ngắn này, Mai Dị và Nguyễn Bá Trác được những chủ súy của phong trào Duy tân cử ra Hà Nội học Pháp văn, nhưng thực chất là thực hiện một sứ mệnh đặc biệt: Mang bản “Đầu Pháp chính phủ thư” ra Hà Nội cho ông Babut dịch ra tiếng Pháp đưa lên Toàn quyền Đông Dương (ông Babut là chủ bút báo Đăng Cổ, ở trong Hội nhân quyền của Pháp). Lúc hai ông cùng với những trí thức trẻ xứ Quảng đang ở Hà Nội thì tại quê nhà Quảng Nam diễn ra vụ nhân dân xuống đường “cúp tóc, xin xâu” khởi đầu là nhân dân huyện Đại Lộc rồi lan nhanh ra khắp các tỉnh trung kỳ. Ngay lập tức, những trí thức trẻ của Quảng Nam như Mai Dị, Phan Khôi, Nguyễn Bá Trác, Nguyễn Mại… người về quê gấp rồi bị bắt, có người bị bắt giải về quê, có người trốn ra nước ngoài. Liên quan đến vấn đề này, Châu bản số 9 của triều Duy Tân ngày 29.8.1908 viết: “…Lê Dư càn quấy diễn thuyết, mỗi nơi chỉ trích phỉ báng quan lại; Mai Dị, Phan Hoài (Khôi), Nguyễn Bá Trác, không xin phép tự tiện đi Bắc kỳ… xin đều xử trượng 100 đồ 3 năm…”.

Sau vụ dân biến Trung kỳ, số phận của đôi bạn tâm giao Mai Dị và Nguyễn Bá Trác bị rẽ theo hai hướng khác nhau. Mai Dị bị bắt trên đường từ Hà Nội về Quảng Nam theo lệnh gọi và bị giam ở nhà lao Hội An. Nguyễn Bá Trác cũng bị kêu án đánh 100 gậy và đày đi 2.000 dặm, nhưng ông không về Quảng Nam chịu án mà tìm đường qua Nhật cùng với những du học sinh phong trào Đông Du của cụ Phan Bội Châu. Tuy nhiên, liền sau đó, dưới sức ép của Pháp, chính phủ Nhật buộc phải giải tán du học sinh phong trào Đông Du. Nguyễn Bá Trác trôi dạt qua Thái Lan, Trung Hoa rồi trở về Việt Nam vào năm 1914. Thời gian qua Trung Hoa cũng chính là thời gian Nguyễn Bá Trác có cảm hứng để sau này viết “Hạn mạn du ký” đăng nhiều kỳ trên báo Nam Phong, trong đó có “Khúc hát Nam Phương” tức “Hồ trường”, được dịch qua Việt văn rất nổi tiếng…

NGỌC KẾT

(Còn nữa)

.
.
.
.
.