Ai là tri kỷ cùng ta cạn một hồ trường (Tiếp theo và hết)

;
Thứ Ba, 23/04/2019, 10:20 [GMT+7]

Như đã đề cập, tác phẩm “Hồ trường” mà Nguyễn Bá Trác dịch qua Việt văn đã vô tình hay hữu ý vận vào số phận của Mai Dị sau này. Khi phong trào Duy Tân của các danh sĩ xứ Quảng khởi xướng thất bại, cử nhân Mai Dị sau khi ra khỏi nhà lao Hội An đã trở về quê nhà Nông Sơn chăm lo ruộng vườn, tạm ẩn tích chờ thời cơ mưu sự lớn. Tiến sĩ Mai Quốc Liên - cháu ruột cử nhân Mai Dị cho rằng, việc cụ cử nhà ông không chấp nhận ra làm quan, lại tham gia phong trào Duy Tân một cách tích cực và nuôi khát vọng canh tân bằng cách giấu mình đằng sau luống cày, mảnh ruộng… sau lần bị bắt năm 1908 đã chứng tỏ khí phách rất khác thường của tầng lớp trí thức trẻ xứ Quảng lúc bấy giờ. Giai đoạn này, Nguyễn Bá Trác sau khi từ Trung Hoa trở về Việt Nam đã làm việc cho tờ báo Cộng thị ở phòng báo chí phủ Toàn quyền Đông Dương, phụ trách phần Hán văn và sau đó lại tiếp tục làm chủ bút phần Hán văn cho tạp chí Nam Phong của Phạm Quỳnh. Đây là thời điểm Nguyễn Bá Trác đăng tác phẩm “Hạn mạn du ký” nhiều kỳ trên tờ Nam Phong, gây tiếng vang trên văn đàn thời bấy giờ. Nhà phê bình văn học Phạm Thế Ngũ nói về “Hạn mạn du ký” như sau: “…Những tình tiết ly kỳ của cuộc phiêu lưu nơi đất lạ đã đem lại cho câu chuyện nhiều vẻ hấp dẫn. Nhất là đối với các Nho gia ta khi ấy từng ôm cái mộng Đông du; nếu không thì trí não cũng đầy kỷ niệm văn chương về danh nhân, danh thắng Trung Hoa, đọc “Hạn mạn du ký” của Nguyễn Bá Trác thật là thú vị…”.

Năm 1916, khi Nguyễn Bá Trác chuyển qua làm việc cho tờ Nam Phong thì Mai Dị lại quyết định tham gia khởi nghĩa của vua Duy Tân do Thái Phiên và Trần Cao Vân lãnh đạo. Chúng tôi may mắn vì được tiếp cận nguồn tư liệu quý giá của cố nhà nghiên cứu Nguyễn Trương Đàn - nguyên Giám đốc Cơ quan thường trú Đài Tiếng nói Việt Nam khu vực miền Trung, sưu tầm từ Trung tâm Lưu trữ quốc gia hải ngoại tại thành phố Provence nước Pháp. Hồ sơ của cố nhà nghiên cứu Nguyễn Trương Đàn cho thấy, Mai Dị được xem là một nhân vật không kém phần quan trọng, phạm vi hoạt động bên ngoài kinh đô Huế nhưng đã có hành động bán một phần tài sản của mình để đóng góp cho cuộc khởi nghĩa và là người được Thái Phiên, Trần Cao Vân tin tưởng giao cho chỉnh lý, sửa bản thảo các hịch kêu gọi nhân dân đứng dậy khởi nghĩa của vua Duy Tân. Cuộc khởi nghĩa thất bại, những chủ soái bị tử hình hoặc chung thân, tù đày biệt xứ, Mai Di bị kết án 3 năm tù - mức án này được cho là khá nhẹ so với vai trò của ông trong cuộc khởi nghĩa.

Tâm thế của một người quyết dấn thân nhưng sự nghiệp không thành đã được Mai Dị thể hiện rất rõ trong những câu thơ - bút tích ít ỏi của ông còn lại cho đến ngày hôm nay: “Ta cũng nhiều sự nhỉ!/ Trước là con nhà phú quý/ Kế là học hành đỗ đạt/ Mộng cũ vừa tan/ Gió bụi mười năm ba phen thay đổi/ Nay việc thế là thôi/ Sáng cày ruộng dưa chiều hái rau/ Anh hùng gió mát mưa sầu/ Một rèm trăng gió mấy độ hoàng hôn…”. Năm ấy, Nguyễn Bá Trác cũng rời Hà Nội vào Huế làm Tá lý Bộ Học và lần lượt trải qua các chức vụ khác của triều đình nhà Nguyễn. Cảm thông hoàn cảnh và cái chí của bạn tâm giao không thành, Nguyễn Bá Trác nhiều lần giới thiệu Mai Dị ra làm quan, nhưng ông cương quyết từ chối. Sau cùng, Mai Dị cũng nhận lời mời của bạn ra Huế tham gia viết sách vì nhận thấy công việc này cũng nhằm góp phần khai dân trí. Ông là đồng tác giả của “Thừa Thiên đăng khoa lục”, “Thừa Thiên địa dư chí”, “Tự điển Hán Việt”...

Ông Tăng Xuyên, người cháu ngoại cùng gia đình tổ chức đưa hài cốt Mai Dị từ núi Ngự Bình về quê nhà Nông Sơn hồi năm 1989 cho hay, thời kỳ ra Huế, ông Mai Dị đã nhận được sự giúp đỡ rất chí tình của Nguyễn Bá Trác. Bởi hơn ai hết, Nguyễn Bá Trác rất hiểu nỗi ưu phiền ẩn chứa trong lòng bạn mình… Đúng vậy, từ bỏ những lo toan thời cuộc, nhưng nỗi ưu tư thì vẫn còn đong đầy trong trái tim cử Dị. Thời buổi ấy, Mai Dị thường mượn chén rượu để tiêu sầu, để quên đi chuyện thời cuộc mà mình dấn thân không thành. Nỗi ưu tư ấy cũng là cái bi, cái khẳng khái của “Hồ Trường” mà Nguyễn Bá Trác dịch: “Đại trượng phu không hay xé gan bẻ cột phù cương thường/ Hà tất tiêu dao bốn bể luân lạc tha hương/ Trời nam nghìn dặm thẳm, non nước một màu sương/ Học không thành, danh chẳng lập, trai trẻ bao lâu mà đầu bạc, trăm năm thân thể bóng tà dương/ Vỗ tay mà hát, nghiêng bầu mà hỏi, trời đất mang mang, ai là tri kỷ lại đây cùng ta cạn một hồ trường/ Hồ trường! Hồ trường! ta biết rót về đâu?.../ Nào ai tỉnh, nào ai say, chí ta ta biết, lòng ta hay/ Nam nhi sự nghiệp ở hồ thỉ, hà tất cùng sầu đối cỏ cây” (bài thơ - lời ca “Hồ trường” xưa nay có nhiều dị bản - NV).

Trải qua bao thăng trầm, dâu bể, giờ đây hai người bạn tâm giao thuở nào lại trở về nơi quê nhà Điện Phước nằm nghe gió thoảng hương cau, nồng nàn hương lúa ruộng đồng và nhâm nhi chén rượu nơi bình yên cây cỏ trong bóng tà dương...

Tôi thả những bước chân trên lối mòn dẫn ra nghĩa trang làng Nông Sơn, mà tôi đồ rằng ít có nơi đâu ở xứ Quảng lại là nơi yên nghỉ của rất nhiều danh sĩ trong đó có Trần Quý Cáp, Nguyễn Thành Ý, Mai Luyện, Nguyễn Bá Trác… Mộ họ bình dị, xen lẫn vào những hàng bia mộ ken dày um tùm cỏ dại. Chợt nghĩ nhiều đến lời ông Nguyễn Sang, làng La Hòa, cháu gọi Nguyễn Bá Trác bằng ông nội chú hiện đang thờ tự vị danh sĩ này, rằng mơ ước lớn nhất của ông và dòng họ là có một nơi chốn thờ tự cụ Nguyễn Bá Trác. Có thể là ngay trong vườn nhà, mảnh vườn ngày xưa cụ Nguyễn in đậm bóng dáng tuổi hoa niên của mình. Dẫu gì ông cũng là một danh sĩ tài năng của xứ Quảng, cũng làm cuộc dấn thân vì đại cuộc như bạn bè một lứa bên trời…

NGỌC KẾT

 

.
.
.
.
.