Cuộc khai quật Đồng Dương năm 1902

;
Thứ Bảy, 06/04/2019, 11:22 [GMT+7]

Những dấu tích của cụm phế tích Chămpa ở thôn Đồng Dương, xã Bình Định Bắc, huyện Thăng Bình từng được nhắc đến trong nhiều tư liệu. Nhưng, có lẽ nhiều hình ảnh và chú thích dễ hiểu nhất là ở trong tập “Missions archéologiques Françaises au Vietnam - Les monuments du Champa: Photographies et Inténaires” do Viện bảo tàng quốc gia về Nghệ thuật châu Á của Pháp có tên Guimet chủ biên và xuất bản vào năm 2005.

Một bức ảnh thú vị của Carpeaux về cảnh khai quật Đồng Dương (đăng trong cuốn sách “Missions archéologiques Françaises au Vietnam - Les monuments du Champa: Photographies et Inténaires” - tr.81).
Một bức ảnh thú vị của Carpeaux về cảnh khai quật Đồng Dương (đăng trong cuốn sách “Missions archéologiques Françaises au Vietnam - Les monuments du Champa: Photographies et Inténaires” - tr.81).

Qua một phần tập sách này (từ trang 91 đến trang 183), chúng ta có thể biết rất chi tiết về cuộc khai quật di tích đền tháp ở Đồng Dương vào nửa cuối năm 1902 được tiến hành bởi hai nhà khảo cổ Henri Parmentier (1871 - 1949) và Charles Carpeaux (1870 - 1904).

Việc chuẩn bị khai quật

Tập sách tiếng Pháp nói trên - tạm dịch nhan đề sang tiếng Việt là “Sứ mệnh khảo cổ học của người Pháp ở Việt Nam - Ảnh chụp và hành trình khai quật những di tích Chămpa từ 1902 - 1904” đã cho biết chính quyền Pháp ở Đông Dương vào đầu thế kỷ 20 đã chi ngân sách và phân công nhân sự chuẩn bị cho việc khai quật các di tích Chăm - trong đó có Đồng Dương như sau: “Một khoản ngân sách 1.500 quan Pháp được cấp cho ông H. Parmentier - thành viên của Trường Viễn Đông Bác cổ (EFEO) để tiến hành việc khai quật ở An Nam”. Đó là quyết định của Toàn quyền Đông Dương công bố ở Hà Nội (…) đã được lưu giữ trong tư liệu của EFEO. Quyết định này đã cho phép Henri Parmentier thực hiện giấc mộng (nghiên cứu) của mình... Với tư cách là “kiến trúc sư - thành viên” làm việc ở trường này hai năm qua, H. Parmentier chịu trách nhiệm “nghiên cứu và bảo vệ các đền tháp Chăm” mà vết tích còn xuất hiện dọc theo miền Trung và Nam của Việt Nam. Những đền đài thuộc tín ngưỡng Bà La Môn giáo và Phật giáo, được xây dựng bởi những người Chăm, chịu ảnh hưởng Ấn Độ giữa các thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ 16, khi đó cũng như những tháng ngày sau đó, cho thấy những minh chứng đẹp đẽ nhất của kiến trúc bằng gạch trong thế giới Ấn Độ. …Từ ngày 26.3 đến 6.9.1902, “sứ mệnh An Nam” đầu tiên đã đưa Charles Carpeaux (người được EFEO cử đến Đồng Dương sau sáu tháng nghiên cứu các đền đài ở Cambodge trước đó - NV) đến và cùng với H. Parmentier khám phá những dấu tích quan trọng nhất của các đền tháp này (khu Đồng Dương - NV)”.

Việc khai quật nói trên dựa theo những kết quả khảo sát ban đầu của Louis de Finot (1864 - 1935) - một trong những Giám đốc đầu tiên của Trường Viễn Đông Bác cổ. Chính trường Viễn Đông Bác cổ - một cơ quan chuyên nghiên cứu văn hóa vùng Viễn Đông đặt trụ sở tại Hà Nội đã tiến cử và đề ra nhiệm vụ và thời hạn khai quật ở Đồng Dương cho hai nhà khảo cổ trẻ tuổi nói trên.

Tiến hành khai quật

Từ ngày 12 đến 15.7.1902, H. Parmentier và Ch. Carpeaux đã đến thôn Đồng Dương, tổng Thuận Đức Trung, phủ Thăng Bình để chuẩn bị. Họ bắt đầu tuyển nhân công ở đó và các làng An Lâm, Thuận Đức, Nho Lâm… lân cận. Toàn bộ công việc khai quật đã được tập sách nói trên mô tả như sau: “Ở Đồng Dương, nơi công việc bắt đầu vào Chủ nhật 7.9.1902 lúc 6 giờ sáng với khoảng 30 thợ, chẳng  bao lâu sau lên đến 130 người trên công trường (19.9), đôi khi đến 200 người. Con số đó chưa phải là tối đa nếu tính rằng trong 81 ngày suốt cuộc khai quật (từ 7.9 đến 26.10.1902) người ta đã khai quang được hơn 6.500 mét vuông. Hai mươi hai đền đài và vô số di tích đã lộ diện, được phát quang, làm sạch, chống đỡ, miêu tả, đo đạc, chụp hình và kiểm kê”.

Bìa cuốn sách “Missions archéologiques Françaises au Vietnam - Les monuments du Champa: Photographies et Inténaires”.
Bìa cuốn sách “Missions archéologiques Françaises au Vietnam - Les monuments du Champa: Photographies et Inténaires”.

Quang cảnh hiện trường lúc bắt đầu khai quật cũng được mô tả: “Các cấu trúc bằng gạch xếp chồng một cách khít khao phủ cây cối rậm rạp từ nhiều thế kỷ dệt thành một lớp rối rắm và chắc chắn bởi những bộ rễ, thân và cành; hơn nữa, công việc khá nặng nhọc. Cấu trúc nguyên thủy bị đảo lộn hoàn toàn làm cho việc nghiên cứu của Parmentier khá phức tạp”.

Tính chất phức tạp của công việc khai quật được tóm tắt: “Có rất nhiều thợ ở hai địa điểm, vì nhiều cây cối phải dọn dẹp và nhất là khối lượng của đống mục nát, đất đá và gạch phải kéo ra một cách kiên nhẫn. (Đó là) một công việc khổ sai được thực hiện bởi một lượng nhân công địa phương lấy từ các làng lân cận. Được hưởng số lương ít ỏi mà Trường (EFEO) có thể trả, các công nhân được tổ chức thành các nhóm được trả công đều đặn. Nhưng công việc thì rất tỉ mỉ và một trong những khó khăn mà Parmentier và Carpeaux phải đối phó là thường xuyên giám sát công việc để tránh cho các dấu vết của đền đài còn hiện hữu tại chỗ không bị hòa lẫn với đống đổ nát”.

Đánh giá các kết quả thu lượm được trong hạn kỳ quá ngắn, cuốn sách trên đã viết: “Cũng nói thêm rằng “kỳ công khảo cổ ”(prouesse archéologique) này trở thành “cuộc khai quật cứu nạn” (fouille de sauvetage) vì thời hạn đặt ra quá ngắn đối với yêu cầu Carpeaux và Parmentier phải có mặt vào tháng 12.1902 ở thủ đô của Đông Dương (Hà Nội - NV), tại hội nghị do Trường Viễn Đông Bác cổ tổ chức vào thời điểm này”.

Lý do tạm dừng và hậu quả

Cuốn sách trên đã nêu lý do cuộc khai quật ở Đồng Dương không được tiếp tục nữa như sau: “Những đền đài được phát quang/ khai quật - sẽ có lợi cho những công việc quan trọng là củng cố và phục dựng - sẽ chẳng bao giờ được khởi công nữa. Rõ ràng là việc xuất hiện các đền đài ở Angkor và ở một vài tỉnh Khmer khác ở Cambogde vào năm 1907 đã gióng lên hồi chuông báo tử cho việc khảo cổ di tích Chămpa cổ: Các phương tiện của EFEO từ đó về sau đã được tiêu xài vào việc phục hồi các di sản Khmer. (Khu) Đồng Dương từ đó đặc biệt chịu thiệt thòi vì sự bỏ rơi này”.

Hậu quả của sự dang dở này cũng được mô tả: “Vào năm 1909, trong cuốn Inventaire của mình, Henri Parmentier đã thú nhận rằng: “Những công trình khai quật phải bị tạm dừng vào cuối tháng 11.1902, không thể chỉ ra được tất cả tòa tháp của khu đền quan trọng này và người ta còn chưa biết tới những tuyến lớn khác”. Những khai quật “đã đứt đoạn” này không bao giờ được khởi động lại... Bị bỏ mặc cho số phận, khu vực này bị xuống cấp nhanh chóng. Một số đồ điêu khắc biến mất rất nhanh. Người ta tìm thấy chúng ngay vào đầu những năm 1930 trong vài bộ sưu tập ở châu Âu hoặc ở Mỹ trước khi trường Viễn Đông Bác cổ quan tâm giữ gìn những chứng cứ quý giá nhất trong bảo tàng Việt Nam và ở chính quốc. Ngày nay, chúng xuất hiện giữa những tác phẩm tượng điêu khắc của Bảo tàng Chăm Đà Nẵng, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam ở Hà Nội và Bảo tàng Guimet ở Pháp”.

Nói thêm

Trong các tư liệu mà hai nhà khảo cổ trên để lại, có thể thấy Carpeaux chuyên phụ trách công việc chụp ảnh ở hiện trường và là phụ tá cho Parmentier trong toàn bộ các công việc khác. Những bức ảnh chụp toàn bộ di tích đã được khai quật và diễn tiến công việc ở đây là những tư liệu “có một không hai” giúp hình dung toàn bộ quang cảnh của khu đền tháp Đồng Dương ngay khi vừa được phát lộ. Từ các ghi chép, bản vẽ khai quật của Parmentier; từ thư từ và các bức ảnh của Carpeaux, bảo tàng Guimet Pháp đã hình thành phần mô tả về cuộc khai quật Phật viện Đồng Dương năm 1902 rất sống động. Chúng tôi thiết nghĩ, cần trích dịch một phần cuốn sách này để giới nghiên cứu, người dân địa phương và khách du lịch được biết một cách tường tận.

PHÚ BÌNH

.
.
.
.
.