Hội An trong mắt một nhà buôn nước ngoài

;
Thứ Bảy, 25/05/2019, 11:00 [GMT+7]

Cách đây 200 năm, một người Pháp đã say lòng với Hoài phố và viết vào nhật ký hải trình của mình những dòng trân trọng, đầy thích thú. Đây là một bản tự thuật của một nhà buôn đi tàu từ Pháp sang nước ta vào cuối đời Gia Long. Mặc dầu các dữ kiện thời ấy chưa được đầy đủ, nhiều chỗ còn sơ lược nhưng cũng có những điều giúp chúng ta mường tượng được về Hội An thời trước một cách sống động, cụ thể.

Chợ Hội An những năm đầu thế kỷ 20 qua ống kính của người phương Tây.
Chợ Hội An những năm đầu thế kỷ 20 qua ống kính của người phương Tây.

1. Trong chuyến hành trình giao hàng vào năm 1819 cùng với rất nhiều tàu thuyền của các quốc gia khác (Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan…), thuyền trưởng Rey của tàu Henry xuất phát từ Bordeaux (Pháp) đến kinh đô Huế đã có dịp ghé và trao đổi hàng hóa ở Hội An. Trong nhật ký của mình, Rey mô tả Hội An là một thương cảng sầm uất với số lượng tàu thuyền nhiều, quy mô trọng tải lớn và hàng hóa trao đổi phong phú, dân số khá đông tại thời điểm bấy giờ: “Hội An giống như một đại thương xá bên Ấn Độ. Thành phố gồm có một con đường thật dài, nhà bằng gạch xây một tầng, tất cả đều buôn bán nên có mặt tiền và kho hàng quay ra đường. Dân số ở đây chừng 60 nghìn người mà trong đó 1/3 là người Trung Hoa. Một vài con rạch chảy vào thành phố và thuyền bè cũng có thể xuôi ngược như tại Huế. Những thuyền lớn của người Hoa trọng tải 600 tấn đến Hội An hàng năm. Con sông chia ra ba nhánh, một nhánh chảy thẳng ra biển trước Cù Lao Chàm, một nhánh chảy vào vịnh Tourane (sông Cổ Cò) còn nhánh thứ ba (sông Trường Giang - Hoài Giang) chảy về tận cùng phía nam của tỉnh, hai nhánh sau này chỉ thuyền nhỏ có thể đi lại thôi…” (*).

Thật đúng là một đô thị nhộn nhịp mà phong cảnh lại hữu tình, làm du khách xao xuyến. Trong những ngày chờ giấy thông hành đến kinh thành, ông đã có dịp tiếp xúc, tìm hiểu nếp sống, văn hóa con người vùng từ Hội An đến Tourane (Đà Nẵng). Trước đó, Pierre Poivre (1719 - 1786) - một họa sĩ nổi tiếng người Pháp, những bức tranh của ông về Việt Nam rất đẹp và chân thực, được giới phê bình đánh giá cao - có kể rằng: “Tại Đàng Trong, một khách đi đường nếu không có tiền để vào nghỉ trọ trong quán thì chỉ cần vào ngôi nhà đầu tiên của một thành phố hay một làng người đó gặp; chẳng ai hỏi han y làm gì, cũng chẳng cần nói năng với ai, chỉ ngồi chờ đến bữa ăn. Ngay khi cơm dọn ra người đó lặng lẽ tới, ngồi vào bàn với gia đình, ăn uống xong ra đi không cần nói một lời nào, cũng không ai hỏi y một câu. Chỉ cần đó là một người, cũng như một anh em bị cơ nhỡ là họ giúp, không cần phải biết gì thêm”.

Tấm lòng hiếu khách, thương người cơ nhỡ của cư dân nơi đây khiến cho ai cũng ấn tượng, cảm kích. Và, 50 năm sau, khi Rey đặt chân đến vẫn còn nguyên: “Đường từ Hội An đến Tourane có nhà cửa dọc hai bên và ở đâu khách lạ cũng có thể xin giúp đỡ hay ngủ trọ và được đón tiếp niềm nở coi như vinh dự của chủ nhà”. “Làm quen, gặp nhiều cư dân ở đây khiến chúng tôi xác quyết thêm về nhận định là người dân nơi đây rất dễ chịu và mến khách, một số sĩ quan ở lại nhà dân nhiều ngày, không gặp bất cứ một sự xua đuổi hay phiền nhiễu nào, ngược lại được  tiếp đãi thật là thân mật và nồng hậu”.

2. Sức hấp dẫn của Hội An đối với du khách chính là chiều sâu văn hóa, là diện mạo tinh thần của người dân, thể hiện trong lối sống và ứng xử (ứng xử với tự nhiên và ứng xử trong xã hội). Rey đã tìm thấy được điều đó ở đây, dù thời gian lưu lại ngắn ngủi, tiếp xúc chưa hết các tầng lớp người dân nhưng cũng đủ cho ông có những đánh giá, ghi nhận một cách tinh tế, chính xác: “Niềm tin dựa trên nguyên tắc thiện ác là căn bản của tôn giáo xứ này, thờ cúng tổ tiên là để dương thiện, còn cầu nguyện và tế lễ là để khử ác và cũng để ma quỷ khỏi khuấy nhiễu những người đã khuất”. “Trong một buổi hội tại Hội An do một viên quan đầu tỉnh tổ chức, trong đó có một số bà hiện diện, có một vài quả phụ và một số thiếu nữ đến mời tôi ăn trầu. Về sau tôi mới hiểu rằng phong tục này là một đặc ân hết sức thân mật, chứng tỏ là những phụ nữ đó sẵn sàng tiến đến hôn nhân mà không cần tìm hiểu thêm về tình trạng hay tính nết của tôi. Đáp lại thịnh tình của họ, tiếc thay tôi không hiểu ra, nên đã đền đáp bằng một hàng của Pháp, nếu không ngộ nghĩnh thì cũng có thể biết được dùng làm gì. Cách đối xử lịch thiệp này xem ra ai nấy đều hài lòng”…

Nếu quan niệm việc học gắn liền với văn hóa thì người Hội An từ nhiều thế kỷ trước đã sống trên một địa bàn “hội văn hóa”, nghĩa là được học và phải học ngay từ đầu, tạo ra bản sắc văn hóa nhân văn rất riêng. Việc tôn vinh người học và người đỗ đạt được Rey miêu tả khá cụ thể và lý thú: “Tôi may mắn được ở Hội An khi tiếp nhận các khóa sinh đi thi vì trên tất cả các tỉnh của  vương quốc, Gia Long thiết lập các trường công chia làm hai lớp. Đối với lớp thứ nhất, các bậc cha mẹ phải gửi con đến học khi chúng được 7 tuổi để học đọc và viết. Lớp thứ hai là để dạy cho những ai muốn theo đuổi nghiệp văn chương, bao gồm bắc sử (sử Trung Hoa) và sử của chính quốc gia này (Việt Nam), họ cũng học nguyên tắc triết lý của Khổng Tử, khoa học tự nhiên và y khoa. Cứ cuối mỗi 5 năm thì loại trường thứ hai này đào tạo một số thí sinh lên kinh đô để được xem xét và cho vào danh sách những người có học”…

Tại khoa thi khoa Kỷ Mão 1819, cả nước 6 trường thi lấy 112 cử nhân, riêng  “… tỉnh Quảng Nam là nơi Hội An tọa lạc, có không dưới 5 thí sinh trúng tuyển và toàn thể dân chúng đã sửa soạn để ăn mừng trong dịp cực kỳ vinh dự nay. Một bữa tiệc và một tuồng hát được sửa soạn để đãi khách, mỗi người được che lọng cùng y phục thích hợp với thứ bực thi đậu” (Nguyễn Văn Điển thuộc làng Thanh Hà, Hội An đã vinh dự có tên trong đợt này).

3. Vốn là một thương gia, Rey cũng đã không quên đưa ra nhận định về khả năng buôn bán của người Hội An và cả vấn đề đạo đức trong kinh doanh theo góc nhìn “chuyên môn”: “(họ) không ngừng cải tiến nghệ thuật buôn bán, trong đó sự tưởng tượng và phát minh là tiền đề để đạt tới hoàn chỉnh”. “Người bình dân xứ này hơn hẳn thành phần tương tự ở Trung Hoa và còn hơn cả người Âu châu nữa về mặt đạo đức và tốt bụng”.

Có thể khẳng định, Hội An là nơi buôn bán thịnh vượng nhất thời Đàng Trong và thời kỳ đầu của vương triều Nguyễn. Thời chúa Nguyễn Phúc Khoát (trị vì 1738 - 1765) có khoảng 6.000 người Trung Hoa, sinh sống lập gia đình và quy thuận chúa thì đến 1819 con số đó đã tăng lên hơn 3 lần. Nơi đây thuận tiện cho khách thương vì thuyền có thể đậu gần các nhà kho. Các nhà buôn khi đến luôn kiếm được nhà kho để mướn...

(*) Tất cả trích đoạn trong bài viết đều được rút ra từ cuốn “Đàng Trong thời chúa Nguyễn” do Nguyễn Duy Chính tuyển dịch, nhà xuất bản Hội Nhà văn năm 2016, từ trang 142 đến trang 172.

NGUYỄN HOÀI QUẢNG

.
.
.
.
.