Hương Trà, chuyện đất, chuyện người

;
Thứ Tư, 01/05/2019, 13:13 [GMT+7]

Lễ hội hoa sưa ở Tam Kỳ diễn ra hồi đầu tháng 4.2019 vừa qua tại Hương Trà - một thôn/ấp cổ của xã Tam Kỳ thuộc tổng Chiên Đàn, huyện Hà Đông, tỉnh Quảng Nam xưa. Địa phương này từng được nhắc đến trong nhiều tư liệu xưa và nhiều câu chuyện kể. Hiện còn nhiều dấu tích chứng minh.

Con đường đắp và hàng sưa cổ thụ ngày nay ở Hương Trà. Ảnh: PHƯƠNG THẢO
Con đường đắp và hàng sưa cổ thụ ngày nay ở Hương Trà. Ảnh: PHƯƠNG THẢO

Hương Trà: thôn/ấp hay làng/xã?

Địa danh Hương Trà được ghi nhận sớm nhất trong sách Phủ biên tạp lục (năm 1776). Trong sách này, học giả Lê Quý Đôn căn cứ vào sổ sách còn lưu của triều đình chúa Nguyễn - Đàng Trong, ghi danh “Vi tử Hương Trà” vào danh sách thôn xã của một đơn vị hành chính là “thuộc Chu Tượng” bao gồm các địa phương có đa số dân làm nghề thợ đóng thuyền (chu: thuyền, tượng: thợ) - nay tra cứu là các địa phương ven các nhánh sông từ vùng Duy Xuyên vào đến hết vùng nam Quảng Nam. Chưa xác định được Hương Trà lúc này là một thôn ấp hay là một làng.

Trong hồ sơ địa bạ lập vào đầu thời Nguyễn (từ năm 1809), Hương Trà được ghi nhận là một thôn lệ vào “thuộc Chu Tượng của huyện Duy Xuyên”, được xác định vị trí nằm về phía đông của Tịch An Đông phường. Cũng theo mô tả của địa bạ này thì Hương Trà nằm ven con sông An Tân (Núi Thành); không phải ven sông Tam Kỳ. Nhưng, chưa tìm thấy địa danh Hương Trà nào khác ngoài “thôn/ấp Hương Trà” ven sông Tam Kỳ nằm gần xã Tịch An Đông - một trong ba đơn vị hành chính Hoa Trà Tân tộc, Tịch An Đông phường và Tịch An Đông xã thuộc Chu Tượng của Duy Xuyên nói trên. Liệu có sự nhầm lẫn nào của người lập địa bạ thời xưa? Hoặc có sự dịch chuyển địa danh nào ở đây?

Trong bản đồ tỉnh Quảng Nam do người Pháp lập vào đầu thế kỷ 20 (dẫn từ nhà nghiên cứu địa bạ Nguyễn Đình Đầu ở TP.Hồ Chí MInh), tên Hương Trà được ghi rõ ở vị trí phía tả ngạn ngã ba sông Tam Kỳ gần với các thôn Hòa Phước, thôn Tứ Bàn của xã/làng Tam Kỳ xưa.

Từ đó đến trước khi thành lập TP.Tam Kỳ, Hương Trà được xác định là một thôn (trước 1945), một ấp (trước 1975) rồi lại là một thôn (trước tháng 9.2006). Tên gọi “làng Hương Trà” chỉ mới được dùng từ lúc có việc trùng tu đình Hương Trà - vốn là ngôi đình làng Tam Kỳ xưa đặt ở thôn/ấp này; bởi sau khi trùng tu, người địa phương thường quen gọi là “đình làng Hương Trà”. Cách gọi đó, tuy không đúng theo cách gọi chính thức của người xưa, nhưng cũng không sai. Bởi ở vùng ven các con sông Tam Kỳ, từng có tiền lệ: thôn Tứ Bàn trước thuộc xã Tam Kỳ, về sau tách thành một đơn vị hành chính riêng (sau năm 1906) vẫn được gọi lẫn lộn khi là thôn, khi là xã hoặc là làng theo cách gọi của dân gian. Điều đó cũng hoàn toàn sát thực tế khi ta biết rằng các “vi tử” (đơn vị hành chính buổi đầu các chúa Nguyễn mở cõi) - từng được ghi nhận trong Phủ biên tạp lục - về sau chuyển thành thôn, ấp, phường hoặc cao hơn là xã tùy theo số dân hoặc theo sự khu biệt vị trí địa lý.

Tư liệu xưa ở Hương Trà

Văn bản có dấu triện triều đình xưa nhất (hiện còn giữ tại nhà cụ lão thành cách mạng Trần Văn Tuyền (94 tuổi) ở khối phố Hương Trà Tây, TP. Tam Kỳ) ra đời vào ngày 21 tháng 2 năm 1766. Nguyên văn như sau: “Thị Thăng Hoa phủ, Nội phủ Kim hộ thuộc, Tân lập Tam Kỳ xã Trần Văn Túc năng ứng vụ nhật cửu. Ứng vi Tướng thần, củ suất bổn xã trục hạng nhân số thuộc Nội phủ; tòng bổn Thuộc ứng vụ. Nhược đãi mạn bất cần cập sinh sự, hữu quá! Tư thị. Cảnh Hưng nhị thập thất niên, Nhị nguyệt, Nhị thập nhất nhật (Quốc vương chi Ấn)” (Tạm dịch: Nay truyền lệnh cho người ở xã mới lập Tam Kỳ, thuộc Nội phủ Kim hộ, phủ Thăng Hoa có tên là Trần Văn Túc, từng làm việc lâu năm, được nhận chức Tướng thần (tương đương chức Xã trưởng - NV), có nhiệm vụ đôn đốc, theo dõi, kiểm soát việc trục hạng nhân số (xếp hạng dân đinh trong xã để liệt vào diện chịu thuế, chịu phu dịch - NV) thuộc Nội phủ. (Người này) phải theo lệnh của Thuộc cấp trên (tức Kim hộ thuộc - NV) thực hiện công việc được giao. Nếu chây lười, chậm trễ hoặc sinh việc (nhũng nhiễu - NV) sẽ phải chịu tội. Nay truyền lệnh! Niên hiệu Cảnh Hưng thứ 27, tháng Hai, ngày Hai mươi mốt. Đóng ấn Quốc vương (tức chúa Nguyễn Phúc Thuần - NV).

Cụ Trần Văn Tuyền - một lão thành cách mạng góp công lớn trong việc khôi phục đình làng Tam Kỳ - đang xem lại Chỉ dụ năm Cảnh Hưng thứ 27. Ảnh: PHÚ BÌNH
Cụ Trần Văn Tuyền - một lão thành cách mạng góp công lớn trong việc khôi phục đình làng Tam Kỳ - đang xem lại Chỉ dụ năm Cảnh Hưng thứ 27. Ảnh: PHÚ BÌNH

Ngoài văn bản trên, hiện còn lưu trong các họ tộc vùng này nhiều văn bản có liên quan đến thiết chế thờ tự, về hành chính, về sở hữu ruộng đất, về thuế má… của xã/làng Tam Kỳ xưa. Đây là những chứng cứ rất quan trọng - không dễ gì còn - về nhiều mặt sinh hoạt của cư dân thôn Hương Trà nói riêng và xã Tam Kỳ nói chung ở nhiều thế kỷ trước của thời phong kiến.

Các dấu tích từ Hương Trà

Chuyện “Ngăn sông Tam Kỳ” của dân Hương Trà và các thôn phụ cận là câu chuyện tiêu biểu nhất. Xưa, Hương Trà là một cồn sa bồi nằm giữa hai nhánh chảy về bắc và chảy về đông của sông Tam Kỳ; muốn lên đường thiên lý (nay là quốc lộ) phải lội qua một nhánh bắc rất khó khăn. Vào đầu thời vua Tự Đức, dân thôn Hương Trà đã cùng chức dịch địa phương góp công, góp của tổ chức đắp con đê ngăn nhánh bắc. Họ vào đến các ngọn đồi Trà Quân, Thạch Kiều, Bích Ngô ở phía hữu ngạn chặt cây rang làm “bổi” chặn dòng.

Việc làm của họ đã được các xã lân cận (nay là toàn vùng TP.Tam Kỳ và vùng phía bắc huyện Núi Thành) giúp đỡ. Năm này qua năm khác, nhánh bắc được chặn dòng. Con đường hình thành do ngăn sông được gọi là “con đường đắp”. Dân Hương Trà cho trồng rất nhiều sưa ở hai bên đường đắp và trồng cây cừa ở sát nhánh sông chảy về phía đông để giữ chân đất. Qua nhiều thế kỷ, sưa và cừa thành cổ thụ; thành thắng cảnh “Vườn Cừa” nổi tiếng từ đầu thập niên 1960 đến nay. Nhánh sông được lấp đã bồi dần thành cánh đồng nằm giữa hai ấp Hương Trà và Hương Sơn - nay là các khối phố cùng tên của phường Hòa Hương, TP.Tam Kỳ. “Đường đắp”, “Vườn Cừa”, “Dòng sông lấp” với di tích bến đò “Gò Găng” như là một chứng minh cho một công trình trị thủy lớn lao của người vùng ven các con sông Tam Kỳ xưa.

Ở Hương Trà còn có “Mộ giày thầy Lánh” gắn liền với truyền thuyết ông thầy Lánh nổi tiếng mà nhiều người ở Quảng Nam đều biết. Hiện còn bia mộ ghi ngoại hiệu của thầy Lánh là “Bích nhãn Tôn sư” (ông thầy mắt xanh). Sát ngôi mộ này là mộ các ông Trần Cảnh Lan và Trần Cảnh Huệ (đời thứ 1) là hai di dân đầu tiên từ xã Kim Chuyết huyện Hoằng Hóa tỉnh Thanh Hóa đến ngã ba sông Tam Kỳ định cư. Cùng khu mộ có mộ ông Trần Văn Bôi (con ông Trần Cảnh Lan - đời thứ 2) và mộ ông bà Trần Văn Nghiêm (đời thứ 3) về sau được phong là ông bà Tiền hiền làng Tam Kỳ. Khu mộ tiền hiền này là dấu tích của một trong nhiều họ tộc có công mở đất Tam Kỳ.

Giữa thôn Hương Trà có nhà thờ Phái 4 - tộc Trần tiền hiền làng Tam Kỳ. Ở đó, thờ cụ Trần Cang - một chí sĩ yêu nước chống Pháp; sau vụ khởi nghĩa của Hội Việt Nam Quang phục tôn phù vua Duy Tân tại Tam Kỳ (tháng 3.1916), cụ Trần Cang bị bắt, bị đày đi Lao Bảo rồi bị bọn cai tù bắn chết ngoài nhà tù ấy.

Liệu trong Lễ hội hoa sưa Tam Kỳ những năm sắp tới, những tư liệu và dấu tích nói trên có được nghiên cứu, đưa vào chương trình để du khách được biết nhiều thêm?

PHÚ BÌNH

.
.
.
.
.