Trà Nô một thuở

;
Thứ Năm, 02/05/2019, 11:37 [GMT+7]

Đã hơn 40 năm trôi qua, những người lính văn nghệ sĩ, báo chí đã từng sống và chiến đấu ở vùng đất lịch sử An toàn khu Phước Trà - Sông Trà (Hiệp Đức) vẫn vẹn nguyên ký ức.

Nhà của các họa sĩ Khu 5 trên vùng căn cứ sông Trà Nô (chất liệu màu nước - 25.12.1974 - họa sĩ Giang Nguyên Thái vẽ).
Nhà của các họa sĩ Khu 5 trên vùng căn cứ sông Trà Nô (chất liệu màu nước - 25.12.1974 - họa sĩ Giang Nguyên Thái vẽ).

1. Hành trang mang theo của người họa sĩ lúc ấy, ngoài tư trang, vũ khí chính là cặp vẽ, giấy, bút, màu... Các anh vừa vẽ vừa chạy giặc càn, ở chiến trường sự sống và cái chết mong manh gang tấc, nên phải tranh thủ mọi thời gian, không gian để vẽ phác thảo, ký họa ngay tất cả những gì mắt thấy. Trong tập sách “Quảng Nam trong ký họa thời kháng chiến 1960 - 1975”, thấy dấu chân của các anh đã đi qua nhiều vùng đất của Quảng Nam, nhiều tư liệu quý hiếm có một không hai về Hiệp Đức qua bức vẽ của các họa sĩ Giang Nguyên Thái, Trần Hồng, Tạ Quang Bạo, Đoàn Văn Nguyên... như địa điểm Cây Gỗ Vuông ở Quế Tiên, Bộ phận in, Nhà in Giải phóng Khu 5, Đội xe Ban Giao vận Khu 5, Trụ sở Báo Cờ Giải phóng, Nhà Tiểu ban Huấn học, Đài phát thanh Giải phóng, đường vào Hội Văn nghệ Giải phóng Khu 5, Ban Tuyên huấn Khu 5 bên sông Trà Nô, cầu Bà Huỳnh bị quân ta đánh sập năm 1974...

Họa sĩ Giang Nguyên Thái kể, anh vào chiến trường trong giai đoạn đất nước dầu sôi, lửa bỏng. Tiểu ban Văn nghệ ban đầu đang đóng ở gần sông Đak Pui, xã Giác Huyện, Trà My. Đơn vị di chuyển nhiều lần cuối cùng đóng ở Trà Nô. Hàng ngày, các anh phải đi phát rẫy, tỉa lúa, trồng bắp, trồng sắn để tự túc lương thực và sáng tác. Anh Thái nhớ nhất là khi được giao nhiệm vụ vẽ chân dung lãnh tụ Hồ Chí Minh, luật sư Nguyễn Hữu Thọ và Chủ tịch Huỳnh Tấn Phát để chuẩn bị cho một cuộc mít tinh lớn tại căn cứ Khu 5 ở Trà Nô. Dụng cụ lúc đó rất thiếu thốn, giấy vẽ thì đi xin ở nhà in C9, than vẽ thì đốt củi, màu đỏ là thuốc sát trùng xin của y tế cơ quan. Anh em xưởng cưa ghép cho 3 tấm gỗ lớn... Phải mất gần một tuần lễ 3 bức chân dung mới hoàn thành. Vì vẽ bằng than củi nên họa sĩ Nguyễn Xuân An (đã hy sinh) phải sang tận xưởng dược của khu để xin cồn về ngâm với nhựa thông rồi phun lên bức vẽ cho muội than khỏi bay mất.

Nhà điêu khắc Phạm Hồng kể, năm 1967 anh cùng đoàn cán bộ của Bộ Văn hóa vượt Trường Sơn vào chiến trường miền Nam, làm cán bộ - họa sĩ Ban Tuyên huấn Khu 5. Anh vẽ khá nhiều, nhưng ấn tượng nhất là vào tháng 1.1974 được gặp ông Hồ Văn Đề, người chỉ huy khởi nghĩa làng Ông Tía vào ngày 13.3.1960, để khắc họa hình ảnh của ông - “Ngọn lửa Trà Nô” trong  trang phục người dân tộc Ca Dong với đôi vai vạm vỡ, đôi mắt sáng rực, đôi tay săn chắc cầm rựa xông trận.

2. Trong chiến tranh, dù hy sinh gian khổ, nhưng có những giây phút quý giá, bên nhau đầy tiếng cười. Ở những lần gặp mặt Ban Tuyên huấn Khu 5, mọi người vẫn thường kể về anh Lê Trọng Khoan (Lê Sâm) - Trưởng ban Tuyên huấn Khu 5, người Nghệ An, thường kể chuyện tiếu lâm làm cả hội trường cười nghiêng ngả. Hay chuyện anh Thịnh - Trưởng ban Huấn học cũng quê xứ Nghệ, trước giao thừa năm nọ anh ra vế đối “Tân niên, miêu bất tọa, bất ngọa!”. Tạm dịch là “Năm mới, mèo không ngồi, không nằm!”. Đây là vế đối khá hóc hiểm, với ý nói “mèo đứng” và mang hàm ý nói lái kiểu miền Trung. Anh Đặng Minh Phương lúc đó là Tổng Biên tập Báo Cờ Giải Phóng của Khu 5, xin đối nôm là “Cuối năm, đài hết pin, hết điện!”. Vế đối lại ý rằng đài hết pin, hết điện nghĩa là “đài tịt”, và cũng không kém cạnh với hàm ý nói lái kiểu miền Trung.

Ông Hồ Văn Đề - chỉ huy cuộc khởi nghĩa Làng Ông Tía (chất liệu màu nước - 01.1974 - họa sĩ Trần Hồng vẽ).
Ông Hồ Văn Đề - chỉ huy cuộc khởi nghĩa Làng Ông Tía (chất liệu màu nước - 01.1974 - họa sĩ Trần Hồng vẽ).

Trong “Nhật ký nữ nhà báo chiến trường” của nhà báo Lệ Thu, quê Tuy Phước, tỉnh Bình Định, hiện là Phó phòng phụ trách Chương trình phát thanh “Người phụ nữ mới” của Đài Tiếng nói Việt Nam, chị nhận lệnh “đi B” vì cách mạng đang cần thành lập ngay một đài phát thanh giải phóng ở Khu 5. Chị đến Trà Nô vào ngày 15.8.1973, lúc ấy, Khu ủy Khu 5 từ rừng núi Trà My chuyển về địa điểm mới, đóng ở Phước Trà. Chị vào chiến trường trong lúc cuộc chiến tranh đi vào giai đoạn khốc liệt và cam go, cái đói, cái khát, bệnh tật và cái chết đến bất cứ lúc nào, bất kỳ nguyên nhân nào. Mọi thứ đều bỡ ngỡ đối với chị. Và, tình quân dân, tình đồng chí, đã giúp cho chị quên đi những khó khăn và nỗi nhớ con… Cái lớ ngớ buổi đầu của một nhà báo chân ướt, chân ráo vào chiến trường, những câu nói lái siêu đẳng của dân Quảng Nam được chị ghi lại làm kỷ niệm vui, những trận cười sảng khoái làm cho người ta quên bớt những cực nhọc gian nguy. Chị nhớ mãi lời dặn của một vị lãnh đạo người Quảng Nam, vừa ân cần, vừa hài hước, rằng “Tình hình khó khăn, căng thẳng là vậy, các đồng chí nhà báo cũng phải chấp nhận cảnh sống ngủ không thẳng lưng, vì không có gường, lại thiếu gạo nên cơm nấu không đầy nồi, chịu khó ăn đói đói một tí”.

Vì điều kiện khó khăn nên Ðài phát thanh không thành lập được, đoàn cán bộ của Lệ Thu trở thành bộ phận “phóng viên thường trú”, có nhiệm vụ phản ánh tình hình thực tế, viết bài gửi ra Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Phát thanh Giải phóng. Nhưng chính đó là cơ hội để chị có dịp đi, chứng kiến với những người sống, chiến đấu để giành độc lập, thống nhất đất nước. Với cái nhìn sắc sảo của người làm báo, chị phát hiện và khắc họa chân dung của những con người bình thường nhưng lại rất đỗi phi thường. Giữa ranh giới sự sống và cái chết ấy, thật đẹp những câu chuyện đầy tình người. “Khi kết thúc trận đánh ở Hiệp Đức, có hai bé gái chạy lạc, một là con của cặp vợ chồng du kích vừa hy sinh, một là con của một gia đình ngụy quân, mồ côi cả cha lẫn mẹ. Hai đứa bé chơ vơ ngơ ngác giữa khói lửa mù trời, đơn vị đã mang cả hai đứa bé về nuôi nấng, dạy dỗ, yêu thương như con đẻ…”. Bom đạn, đau thương, đói rách, mệt mỏi… Nhưng vẫn không thiếu vắng tiếng cười. “Trưa nay khi ngồi nghỉ, thấy mấy cô gái xứ Quảng lôi thuốc rê ra hút, một anh chàng rất đẹp trai không biết ở đoàn nào, đọc mấy câu ca dao trêu chọc: “Tiếng đồn con gái Quảng Đà/ Mất mùa thuốc lá chết ba ngàn người/ Bộ đội nghe nói tức cười/ Đi xem ngộ độc chết mười phần trăm”…

3. Sông Trà Nô, mùa cạn hiền hòa, nước chỉ đến đầu gối, nhưng đến mùa lũ thì hung dữ lạ thường. Cô Đệ, nhân viên báo vụ người Bắc Ninh và họa sĩ Hà Xuân Phong là những người đã mãi mãi gửi lại tuổi xuân trên dòng sông này vào một trong những mùa lũ ấy. Họa sĩ Hà Xuân Phong sinh năm 1931, quê ở làng chài Mân Thái, quận Sơn Trà, Đà Nẵng. Đồng đội anh kể, anh thường thích kể chuyện phiếm, buộc người nghe cười hết cỡ. Trước khi hy sinh, anh đi chiến dịch Nông Sơn và Thượng Đức, trở về mang theo nhiều tranh vẽ quý giá. Vào ngày 17.11.1974, nước lũ lớn gào thét trên dòng sông Trà Nô, Ban Tuyên huấn Khu ủy có cuộc họp liên tịch giữa Đảng và Công đoàn bàn về đời sống cán bộ nhân viên. Ban Tuyên huấn ở bên kia sông, nhà văn Cao Duy Thảo, chi ủy viên và họa sĩ Hà Xuân Phong phụ trách công đoàn phải qua sông để họp. Khi về anh đã bị lũ cuốn trôi, mấy ngày sau mới tìm thấy thi thể.

Văn nghệ sĩ, những người làm báo đi qua vùng này, thường dừng chân bên cầu Bà Huỳnh thắp nén tâm nhang, thả những đóa hoa xuống dòng sông, thành kính tri ân, mong muốn vơi đi một phần nỗi đau mất mát của những người thân, đồng chí, đồng đội, nguyện cầu cho các hương hồn liệt sĩ được siêu thoát, phù hộ độ trì cho quê hương, đất nước được thanh bình.

HÀ AN

.
.
.
.
.