Viết văn bia cho đồng môn, đồng chí

;
Chủ Nhật, 19/05/2019, 07:58 [GMT+7]

Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp không chỉ là những “đồng môn” một thời ở trường Đốc Thanh Chiêm mà còn là “đồng chí” trong phong trào Duy tân. Những trang viết để lại của Huỳnh Thúc Kháng đã nói lên mối thâm tình của hai nhà chí sĩ!

Mộ chí sĩ Trần Quý Cáp.
Mộ chí sĩ Trần Quý Cáp.

Từ đồng môn đến đồng chí

Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp là hai lãnh tụ của phong trào Duy tân. Hai ông vốn là bạn học ở trường Đốc Thanh Chiêm. Giữa hai người có những cái “duyên” bất ngờ và thú vị!

Vào những năm cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 ở trường Đốc Thanh Chiêm do Tiến sĩ Trần Đình Phong làm Đốc giáo (Hiệu trưởng) có 4 khuôn mặt nổi bật, đó là Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Đình Hiến và Trần Quý Cáp.

Trong 4 người, Trần Quý Cáp được xem là “anh cả” vì ông là người “già dặn” nhất cả về tuổi đời lẫn trình độ. Về tuổi đời Trần Quý Cáp sinh năm 1870, Phan Châu Trinh và Nguyễn Đình Hiến cùng sinh năm 1872, Huỳnh Thúc Kháng nhỏ tuổi nhất, sinh năm 1876. Về “học lực” mỗi người có thế mạnh riêng nhưng Trần Quý Cáp được đánh giá là người trội nhất nhờ có nhiều năm “dùi mài kinh sử” lại từng “gõ đầu trẻ” và có nhiều học trò đỗ đạt. Trong Thi tù tùng thoại, Huỳnh Thúc Kháng đã viết về người “anh cả”: “Bình sanh công học dưỡng rất dày, đến một câu nói, một tiếng cười cũng không cẩu thả, bạn đồng học đều kỉnh tiên sinh như bậc trưởng giả” (Nxb Nam Cường, Sài Gòn, 1953, trang16).

Khoa thi Hương năm Canh Tý 1900, hy vọng đặt vào cả 4 người. Đây là khoa thi “được mùa” của đất Quảng (chiếm 1/3 số người thi đỗ và chiếm 4 vị trí đầu) nhưng trớ trêu thay Huỳnh Thúc Kháng đỗ thủ khoa (Giải nguyên) trong khi Trần Quý Cáp lại… hỏng. Năm sau, khoa thi Hội năm Tân Sửu (1901) Phan Châu Trinh và Nguyễn Đình Hiến đỗ Phó bảng. Huỳnh Thúc Kháng có tang cha nên không dự thi. Trần Quý Cáp thi hỏng khoa trước nên không thể dự thi. Định mệnh như sắp xếp để hai ông gặp nhau trong khoa thi sau. Khoa thi Hội năm Quý Mão, 1904, hai ông đều đỗ tiến sĩ. Kết quả hai kỳ Hội và Đình lại rất thú vị. Nói theo ngôn ngữ bóng đá hiện nay thì trận lượt đi (Hội thí) Huỳnh Thúc Kháng thắng (đỗ trên), trận lượt về (Đình thí), Trần Quý Cáp thắng (đỗ trên).

Cả Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng đều trở thành lãnh tụ của phong trào Duy tân và cùng Phan Châu Trinh trở thành “bộ ba Duy tân Quảng Nam”. Trong số ba lãnh tụ của phong trào thì “Thực dân Pháp và một số quan lại Nam triều ghét nhất là Phan Châu Trinh và Trần Quý Cáp vì hai người này có thiên tài hùng biện lôi cuốn người nghe, ít sợ Huỳnh Thúc Kháng vì ông ít nói” (Hồ Tá Khanh, Thông sử Liên Thành, trang 46. Dẫn lại của Lê Thị Kinh trong Phan Châu Trinh qua những tư liệu mới, Nxb Đà Nẵng, 2003). Nhưng trong đời thường, tính cách của hai cụ Huỳnh, Trần lại gần gũi nhau hơn. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Xuân, Phan Châu Trinh là người “bạt mạng” quan trường, cõi sắc, cuộc cờ, đám bạc… chỗ nào ông cũng vào cho biết. Nhưng khi cần thì gò cương quay lui, không bị nịch (chìm đắm). Ông cho rằng vào được ra được mới là hào kiệt, bản lĩnh. Trái lại Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng lại chủ trương: “để cho đến vào trong mà không ra được, thà không vào là hơn”!

Những trang viết để lại

Huỳnh Thúc Kháng là người sống lâu nhất trong nhóm nên ông có điều kiện để “lo” cho các đồng môn, đồng chí.

Đối với Phan Châu Trinh, ngày cụ Phan qua đời, mặc dù bị Chánh sở Mật thám Sogny gây khó dễ, cụ Huỳnh vẫn kịp vào Sài Gòn nắm tay bạn để chia biệt: “Khi đến Sài Gòn thì bệnh của Tây Hồ đã trầm trọng, không ngồi dậy được, chỉ ngó nhau cười nhưng nhân khi nói chuyện mà có lời vĩnh quyết: “Hai ta được thấy nhau trên trần gian này một khoảng ngắn ngủi cũng đủ rồi; can trường bình sinh đã soi rọi nhau, không cần bàn nhiều” (Huỳnh Thúc Kháng tự truyện, Nxb VHTT, 1997). Trong đám tang Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng là đại diện cho Trung Kỳ đọc lời vĩnh biệt.

Đối với Nguyễn Đình Hiến, tháng 1.1947 trên đường kinh lý miền Trung, Huỳnh Thúc Kháng đã về Lộc Đông, Quế Sơn thăm Nguyễn Đình Hiến. Trước khi chia tay có tặng bạn câu đối: “Trên trời rớt xuống hai mươi năm sống lẫn cõi trần hoàn, cũng đỗ, cũng quan cũng quận, cũng triều, chốn kịch trường khi bấn khi nhàn, vũ trụ tỉnh say đôi mắt trắng/ Dưới đất chồi lên, mười phân trọn vẫn còn nguyên bổn sắc, này cây, này đống, này non, này nước, nơi tiên cảnh lại về lại ở, càn khôn thâu lượm một bao xanh”. Hai tháng sau Nguyễn Đình Hiến mỉm cười ôm câu đối về… tiên cảnh.

Riêng đối với Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng dành nhiều “ưu ái” hơn. Khi đang còn trong nhà lao Quảng Nam chờ đi đày, nghe tin Trần Quý Cáp bị xử chém, Huỳnh Thúc Kháng xúc động làm bài thơ và câu đối để viếng. Bài thơ như sau:

“Gươm sách xâm xâm tách dặm miền/ Làm quan vì mẹ há vì tiền/ Quyết đem học mới thay nô kiếp/ Ai biết quyền dân nảy họa nguyên/ Bồng đảo gió chưa đưa giấc mộng/ Nha Trang cổ đã khóc hồn thiêng/ Chia tay chén rượu còn đương nóng/ Đà Nẵng đưa nhau lúc xuống thuyền”.

Câu đối như sau:

“Đàn anh phái tây học, bỗng mất một tay, muôn dặm mi mù, bạn trẻ trông sau rền rỉ khóc/ Đời tho với danh thơm, khó toàn hai ngả, một quan nhò nhỏ, mẹ già dựa cửa xót xa đau”.

Đặc biệt năm 1938, nhân dân Điện Bàn và tộc Trần dựng bia cho Trần Quý Cáp. Huỳnh Thúc Kháng là người được tín nhiệm mời viết văn bia. Ông viết Thai Xuyên Trần Quý Cáp tiên sinh tiểu truyện. Trong văn bia, bằng ngôn ngữ hàm súc, ngắn gọn nhưng phong phú thông tin đã nói đầy đủ về tư tưởng, hoạt động và nhân cách của Trần Quý Cáp (dù đang dưới chế độ thực dân).

Nhà nghiên cứu Trần Viết Ngạc cũng cho rằng: “Đọc qua mộ chí hẳn ai cũng biết Trần Quý Cáp là một học trò thông minh, ham đọc sách, suy nghĩ rất sâu, một người bạn chí tình, một người con chí hiếu, một người thầy dạy người không biết mỏi và một nhà cách mạng hô hào cho dân quyền…”.

Bên cạnh những nội dung trên, bằng cách viết gián tiếp Huỳnh Thúc Kháng cũng cung cấp một thông tin vô cùng quan trọng cho các nhà nghiên cứu sử sau này, đó là Trần Quý Cáp đã từng là một nhân vật quan trọng của Duy Tân hội, một người mà Tiểu La Nguyễn Thành đã mách với Phan Bội Châu là “một hảo hán có đảm thức”!

Với những gì để lại Huỳnh Thúc Kháng xứng đáng là một người bạn chí tình đối với đồng môn, đồng chí; một sử gia của phong trào Duy tân!

LÊ THÍ

.
.
.
.
.