Ai về cố quận cho ta nhắn...

ĐẶNG TRƯƠNG KHÁNH ĐỨC |

Trong số những người Quảng Nam ít nhiều có gắn bó với thủ đô Hà Nội, nữ sĩ Hằng Phương là  người  có nhiều duyên nợ và để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng người dân đất Hà Thành. Bằng đức hạnh và những đóng góp của bản thân, bà đã góp phần làm thơm danh quê hương giữa lòng thủ đô...

Chân dung nữ sĩ Hằng Phương.
Chân dung nữ sĩ Hằng Phương.

Nữ sĩ Hằng Phương tên thật là Lê thị Hằng Phương, người làng Bảo An (Điện Quang, Điện Bàn). Là con gái cụ Lê Dư - một nhà nho nổi tiếng Trung kỳ thời bấy giờ, một nhân vật tích cực trong phong trào Đông du của chí sĩ Phan Bội Châu. Sau khi phong trào Đông du thất bại, cụ Lê Dư từ Nhật trở về Quảng Nam và đưa cả gia đình ra Hà Nội. Năm ấy, Hằng Phương mới vừa tròn mười bốn tuổi. Mười bốn tuổi phải xa quê hương, xa những cảnh vật yêu dấu và người thân quen nơi vùng đất Gò Nổi, lòng thiếu nữ trẻ Hằng Phương không khỏi luyến tiếc nhớ thương. Tình cảm ấy sau này trong bài thơ Tiễn biệt, nữ sĩ có viết:

Một tiếng còi vang xé quãng không

Bánh xe quay tít lệ quanh tròng

Ai về cố quận cho ta nhắn

Gửi chút lòng thương nhớ núi sông

Ngoài sự chuyển dịch của gia đình, cái duyên khiến người phụ nữ xứ Quảng này gắn bó cả đời mình với Hà Nội có lẽ là cuộc gặp gỡ với chàng trai xứ Kinh Bắc, nhưng từ lâu  đã là người Hà Thành - Vũ Ngọc Phan. Mối tình hàn sĩ Vũ Ngọc Phan và nữ sĩ Hằng Phương lúc bấy giờ được cho là trai tài, gái sắc vẹn toàn. Họ cảm mến nhau ngay từ buổi đầu gặp gỡ: Yêu anh em hóa yêu đời/Theo anh chắp cánh tung trời bay cao... để rồi nên nghĩa vợ chồng, có với nhau tám người con trai gái và cùng nhau bước đi đến trọn cuộc đời trong hạnh phúc dẫu có nhiều gian khó của cuộc mưu sinh. Sinh thời, nhà văn Hoàng Minh Nhân cho rằng, nghĩ về bà Hằng Phương thì điều đầu tiên đó là một người phụ nữ của gia đình. Bởi bà nổi tiếng chịu thương, chịu khó, chăm lo cho chồng và nuôi nấng con cái ăn học đàng hoàng. Đó là một người phụ nữ “số một” vào thời bấy giờ.

Xét về thơ của bà cũng nên đặt trong bối cảnh gia đình và xã hội cụ thể để thấy được những giá trị đích thực của một tâm hồn thơ đa cảm nhưng đầy chân thực, bao dung.  Họa sĩ Vũ Giáng Hương, con gái nữ sĩ Hằng Phương có lần hồi tưởng về một quãng đời của cha mẹ mình trong quá khứ với một phong cách sống rất Tràng An: “Tuy vất vả quanh năm, nhưng cha mẹ tôi vẫn thường mời các chú, các bác như nhà văn Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư... đến nhà chơi, uống rượu và nói chuyện thơ. Cha mẹ tôi bao giờ tiếp khách cũng ăn mặc chỉnh tề, mẹ tôi thường mặc áo dài, đánh phấn, quấn tóc rất đẹp...”.

 Quả thật, hình ảnh người phụ nữ xứ Quảng nhan sắc Hằng Phương, bươn chải giữa đất Hà thành lo sinh kế cho gia đình và tự vươn lên trong cuộc sống để sáng tác, trình làng nhiều bài thơ gây được tiếng vang trên thi đàn, được những nhà thơ tên tuổi bấy giờ như Xuân Diệu, Huy Cận... đánh giá cao thật đáng khâm phục và ít nhiều để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người Hà Nội. Tiến sĩ Vũ Triệu Mân - con trai nữ sĩ Hằng Phương nhớ lại: “Bố tôi, nhà văn Vũ Ngọc Phan đã để lại cho cuộc đời một sự nghiệp văn học đồ sộ. Nhưng sự nghiệp của bố tôi không hề tách rời công lao đóng góp của  mẹ - nữ sĩ Hằng Phương. Suốt những năm tháng ấy, chính mẹ tôi là người giúp bố rất nhiều trong công việc biên tập và chấm mo-rát các tác phẩm trước khi cho in. Nhiều người thắc mắc, mẹ tôi bận lo toan gia đình như thế, chăm sóc con cái như thế làm sao có thời giờ để sáng tác. Quả đúng vậy, nhưng mẹ tôi luôn có cách sáng tác riêng của mình. Tôi mãi nhớ, trong túi áo bà lúc nào cũng có một cuốn sổ nhỏ và mẹ tôi làm thơ mọi lúc, mọi nơi. Có khi đang đi, nghĩ ra câu gì, bà ghi vào sổ tay để đêm về khi mọi việc đã xong thì mở ra chỉnh lại”...

 Chính sự lao động hết mình như thế nên từ năm 1929 đến năm 1943, nữ sĩ Hằng Phương có nhiều tác phẩm thơ đăng trên các báo như: Đàn Bà, Tri Tân, Ngày nay, Hà Nội tân văn, Trung Bắc tân văn... tại Hà Nội. Và, năm 1943, Hằng Phương cùng các tác giả Vân Đài, Anh Thơ, Mộng Tuyết cho in tập Hương Xuân - tập thơ bằng chữ quốc ngữ của một tập thể tác giả nữ đầu tiên ở Việt Nam. Bản thân bà cũng đã cho ra mắt hai tập thơ: Mùa gặt và Hương đất nước xuất bản vào các năm 1961 và 1972.

Nhưng đâu phải chỉ được người thời bấy giờ  biết đến với tư cách một “mẫu mực”  người phụ nữ gia đình và một nhà thơ dạt dào cảm xúc. Nữ sĩ Hằng Phương còn hoạt động xã hội tích cực, vì sự tiến bộ, bình đẳng của con người nói chung và phụ nữ Việt Nam nói riêng. Ở góc độ này, bà đã để lại dấu ấn đậm nét với người đương thời.  Năm 1938, nữ sĩ Hằng Phương tích cực tham gia hoạt động ở Hội truyền bá quốc ngữ do các ông Nguyễn Văn Tố, Phan Thanh, Hoàng Xuân Hãn... chủ trương. Tại sân vận động CSA - nay là Cung văn hóa hữu nghị Việt - Nga ở Hà Nội, bà đã thay mặt giới phụ nữ lên đọc lời kêu gọi phụ nữ cả nước học chữ quốc ngữ. Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, bà cùng gia đình tham gia kháng chiến và trở thành trưởng ban liên lạc văn nghệ phụ nữ liên khu IV, Hội viên Hội nhà văn Việt Nam. Sau về công tác tại Viện văn học và tham gia trong Ban giám hiệu trường đào tạo lực lượng viết văn trẻ. Nhớ lại những ngày tháng cùng sống ở Hà Nội, ông Nguyễn Đình An, nguyên Chủ tịch Ủy ban MTTQ thành phố Đà Nẵng - một người thuộc thế hệ đàn em nữ sĩ Hằng Phương cùng quê Bảo An - Gò Nổi hết sức trân trọng và khâm phục người chị đồng hương của mình khi bảo: “Tôi không thể nào tưởng tượng nổi rằng một người phụ nữ hết lòng, hết dạ vì gia đình và vì sinh kế như thế lại tích cực tham gia các hoạt động xã hội, nổi lên như một điển hình của phụ nữ thời bấy giờ...”.

Sinh năm 1908 và mất năm 1983, hưởng thọ bảy mươi lăm tuổi. Trong bảy mươi lăm năm ấy, nữ sĩ gần như gắn bó trọn đời mình với Hà Nội mặc dù trong trái tim bà, Quảng Nam quê cha đất mẹ vẫn dằn vặt tâm can: Mòn mỏi ngày đêm trông lại trông/Cố hương xa cách mấy rừng sông... Điều quan trọng là, với ngần ấy thời gian, bằng đức hạnh cao đẹp của một người phụ nữ xứ Quảng, bằng những việc làm tích cực cho xã hội, nữ sĩ Hằng Phương đã lưu lại tên mình trong tâm khảm một thế hệ người Hà thành một cách sâu đậm.

Lòng quê

                           (Tặng Vũ Ngọc Phan)

Xưa kia em ở bên trời
Ngây thơ chưa rõ cuộc đời là chi,
Mặc cho ngày tháng trôi đi
Tóc mây nào biết có khi bạc đầu!
Chim non ở chốn rừng sâu,
Quanh mình chỉ thấy một màu xanh xanh.
Bình minh buổi ấy gặp anh
Rủ em ra chốn đô thành xa khơi.
Yêu anh, em hóa yêu đời,
Theo anh chắp cánh tung trời bay cao.
Anh đưa em đến vườn đào,
Màu tươi, sắc thắm, em nào dám chê.
Nhưng em luống nặng lòng quê,
Nhớ thương cảnh cũ bốn bề núi non.
Nhớ làng nhớ xóm con con,
Nhớ hương cây quế chon von trên đồi;
Bạn xưa, nhớ yến tha mồi,
Cành xưa, em đỗ trong hồi còn thơ...
Ðường xa, ngoảnh lại ngẩn ngơ,
Trông theo mây trắng thẫn thờ mắt xanh...

(Hằng Phương -Thi nhân Việt Nam)

ĐẶNG TRƯƠNG KHÁNH ĐỨC