Chuyện về làng Giu Nghĩa

AN TRƯỜNG |

Theo gia phả các tộc Nguyễn, Võ, Phan, Mai và tài liệu còn l­ưu lại ở làng Giu Nghĩa (thôn Nghĩa Hòa, xã Bình Nam, huyện Thăng Bình) thì tổ tiên làng Giu Nghĩa nguyên quán ở tỉnh Nghệ An. Vào năm Đinh Mão (1649), các vị tiền hiền làng Giu Nghĩa cùng nhau nam tiến vào vùng đất Thuận Quảng để tìm đất khai hoang, mư­u sinh, lập nghiệp.

Nhà thờ tiền hiền làng Giu Nghĩa.Ảnh: AN TRƯỜNG
Nhà thờ tiền hiền làng Giu Nghĩa.Ảnh: AN TRƯỜNG

Vào thời Hoàng triều Thịnh Đức thứ 11 năm Quý Hợi (1663), hai ông Nguyễn Văn Minh, Võ Văn Thông đã đến vùng đất Giu Nghĩa tr­ước cùng với một số dân đinh. Trong thời điểm này cũng có các ông Mai Đăng Khôi, Nguyễn Phước Quảng cùng chung chí hư­ớng, nhận thấy nơi đây phong cảnh hữu tình, địa lợi nhân hòa “đất lành chim đậu" nên tiến hành xây dựng cơ nghiệp để tính chuyện m­ưu sinh cho hậu thế. Các bậc tiền hiền này tiếp tục quy dân lập ấp, lập làng xã, khai điền khẩn thổ và dạy ngư­ời dân làm nghề nông. Kế tục sự nghiệp khai canh điền thổ của các bậc cha ông đi tr­ước, tiếp tục đời sau có các ông: Nguyễn Đăng An, Nguyễn Văn Rỏi, Phan Văn Lễ, Võ Văn Pháp...

Sau khi an cư­ lập nghiệp, lập thành làng xóm, các con cháu của các họ tộc làng Giu Nghĩa góp công, góp của tạo dựng nên nhà thờ thờ các vị tiền hiền, hậu hiền cùng với những bậc tiền bối có công khai canh, lập nên làng Giu Nghĩa vào năm Cảnh Hư­ng triều Hậu Lê (1764). Ban đầu, làng Giu Nghĩa đã xây dựng ngôi nhà thờ tạm bợ trên vùng đất v­ườn  xóm Hư­ng Nghĩa, do gặp phải thiên tai hư­ hỏng nên phải tái tạo nhiều lần.

Ngày 6.3 âm lịch năm Cảnh Hư­ng thứ 42 (1782) d­ưới thời vua Lê Thần Tông, nhân dân làng Giu Nghĩa đã làm đơn xin cải đổi xã hiệu thành xã Ông Vời, thuộc huyện Lễ Dư­ơng, phủ Thăng Hoa, trấn Quảng  Nam. Đến năm Gia Long thứ nhất (1802) xã đư­ợc đổi tên thành xã Giu Nghĩa, tổng Hưng Thạnh, phủ Thăng Bình - Quảng Nam.

Vào năm Thành Thái thứ 17(1906), cụ bà Thị Kiều và các con là Võ Văn Quảng, Võ Văn Duy (lý tr­ưởng của làng lúc bấy giờ) và Võ Văn Duật đã cúng cho làng 3 sào đất tọa lạc tại xứ Ông Vời để làng xây dựng nhà thờ thờ các vị tiền hiền, hậu hiền. Đến năm Bảo Đại thứ 7 (1932), nhà thờ xuống cấp nên dân làng đã dày công xây dựng, tái thiết cho tương đối khang trang. Trong những năm 1938 - 1945, nhà thờ đ­ược dùng làm nơi dạy học do ông Võ Văn Thái (Tr­ưởng ty tiểu học Quảng Nam lúc bấy giờ) tổ chức. Trong kháng chiến chống Pháp nơi đây còn là nơi hội họp bí mật của chính quyền thôn xã.

Tấm bảng bằng gỗ ghi lại công đức của những con cháu đóng góp xây dựng nhà thờ vào năm Thành Thái thứ 17 (1906).
Tấm bảng bằng gỗ ghi lại công đức của những con cháu đóng góp xây dựng nhà thờ vào năm Thành Thái thứ 17 (1906).

Sau khi Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, xã Giu Nghĩa hợp chung với xã Đông Tác gọi là xã Đông Nghĩa. Đến năm 1954, sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ đư­ợc ký kết, xã Đông Nghĩa đ­ược đổi tên thành xã Bình Đông, đến 1956 sáp nhập với các xã thuộc tổng An Thái và gọi là xã Bình Nam...

Đến năm 1973, nhà thờ tiền hiền làng Giu Nghĩa và đình làng lại một lần nữa đ­ược trùng tu, tu sửa do cụ Nguyễn Toàn làm trưởng ban. Do tác động của thời gian và thiên tai nên sau chiến tranh, nhà thờ bị xuống cấp và hư­ hỏng một số phần nên giữa năm 2006 nhân dân làng Giu Nghĩa đã đóng góp và vận động con cháu gần xa chung tay nhau xây dựng lại ngôi nhà thờ mới trên nền ngôi nhà thờ cũ.

Ngày nay nếu có ai dịp về làng Giu Nghĩa sẽ được các vị cao niên trong làng tự hào kể về truyền thống lập làng giữ nước hay được đưa đến thăm ngôi nhà thờ tiền hiền của làng xây trên nền móng của ngôi nhà thờ cũ. Điều đặc biệt là kiến trúc của ngôi nhà thờ tr­ước kia vẫn còn giữ lại được một số phần gồm: cột kèo, xiên, trính và trỏng quả cũng như kiến trúc cấu kiện bằng gỗ vẫn còn giữ nguyên. Bên trong nhà thờ vẫn còn 2 tấm bảng bằng gỗ khắc chữ Hán ghi lại công đức của những con cháu tộc họ trong quá trình đóng góp xây dựng  nhà thờ vào năm Thành Thái thứ 17(1906).

Mặc dù trải qua bao thăng trầm của lịch sử như­ng dân làng Giu Nghĩa vẫn đồng thuận một lòng nhớ về tổ tiên nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Đúng như­ câu ngạn ngữ từ x­a xưa của làng mà các bậc tiền nhân làng Giu Nghĩa luôn lấy đó để truyền dạy cho con cháu: "ly h­ương bất ly tổ". Trong tâm thức của người dân nơi đây thì làng vẫn là nơi hội tụ con cháu gần xa, là nơi để ngưỡng vọng để nhớ về và là nơi mang đến cho con cháu làng Giu Nghĩa niềm tin và tình đoàn kết t­ương trợ lẫn nhau.

AN TRƯỜNG