Hội An trong mắt ai...

TRƯƠNG ĐIỆN THẮNG |

Người Hội An làm nên đô thị cổ Hội An! Từ hàng chục năm nay, càng đọc và đi lại, giao tiếp, tôi càng nghiệm thấy điều ấy ngày một chính xác hơn.

Hội An - trên bến dưới thuyền.
Hội An - trên bến dưới thuyền.

Các đánh giá của truyền thông quốc tế về Hội An như tổ chức du lịch USTOA, website CNNGo và trang du lịch trực tuyến Tripadviser về các “điểm đến mới nổi”, “top 50 các điểm ẩm thực” hay “top 50 bãi biển đẹp nhất”… đều đề cao vai trò chủ nhân của cư dân Hội An trong lịch sử; bởi đặc điểm di sản văn hóa thế giới này có một khác biệt đáng kể so với các di sản khác. Đó không phải là một phế tích, mà còn là nơi sinh sống làm ăn của hơn 8 vạn dân sở tại. Elly Swedenmark, người quản lý “học kỳ Việt Nam” tại Hội An của Đại học Oslo (Na Uy) nói rằng mỗi lần cô quay lại Hội An là như về nhà mình bởi những tình cảm thắm thiết, chân tình của con người ở đây. “Chúng tôi muốn sinh viên tiếp cận với nền văn hóa và con người địa phương, chứ không tới Việt Nam để hòa trộn trong những đoàn khách du lịch... Đó cũng là mục tiêu chính của mỗi khóa học!” - Elly nói.

Đi một vòng Hội An ngày đầu năm, tôi lại nghe nhạc sĩ lão thành Trương Đình Quang nói chuyện người Hội An trong quá khứ. Trong văn hóa nghệ thuật từ trước Hội An có nhiều nhạc sĩ tài ba và nổi tiếng như La Hối, Dương Minh Ninh, các nhà văn dòng họ Nguyễn Tường, Lưu Nghi, Hoàng Châu Ký, Huỳnh Lý… Còn trong thể thao, trước Cách mạng Tháng 8, ngoài hai đội bóng Faifo A (có tiền vệ hay nhất Đông Dương Trần Văn Tứ) và đội Faifo B (có giáo sư Hoàng Châu Ký, nhà văn Lưu Nghi), giới trẻ Hội An còn có 3 đội bóng học sinh và thợ thuyền. Đội Chim Én của trường Viên Minh có các cầu thủ điển hình mà sau này là giáo sư Huỳnh Lý, nhà cách mạng Phan Thao; đội Gà con của trường Con trai có các thầy Hồ Quế, Trần Tri, nhà thơ Vương Tân và đội Sư tử con của giới thợ thuyền. Khi các đội A, B thi đấu, các đội nhỏ này thường đá mở màn. Tiền vệ Tứ bị chấn thương vùng bụng trong trận chung kết giải Sifa trước năm 1945, sau đó chết, đã được người dân và các quan Pháp tôn vinh, xây mộ dựng bia nay vẫn còn ở phường Tân An. Nhưng bia miệng của người Hội An về tình yêu bóng đá chính là câu vè: “Anh Vàng a-ri-e (trung vệ), Anh Đạt bờ-lông-rê (giữ gôn), giáo Huê tém góc, Ô kho bạc đá móc, anh Mạn bao sân, Cai Cần đá bổng…”. Trong lĩnh vực thể thao người Hội An cùng thời ấy còn có cụ Hồ Cường, từng đoạt giải vô địch marathon ở Thái Lan…

Nhạc sĩ Trương Đình Quang nói, Hội An thời nào cũng có những người con làm rạng danh cho quê hương mình và họ luôn ở trong lòng, trong trí nhớ của nhân dân, bởi chính họ góp phần làm nên bản sắc Hội An…

Tranh Chùa Cầu bằng lông gà.
Tranh Chùa Cầu bằng lông gà.

Nhà nghiên cứu sử học Li Tana trong tác phẩm Xứ Đàng Trong từng viết đại ý rằng tác động qua lại của quá trình tiếp thu, dung hóa về văn hóa của người Đàng Trong, của Guang Nam Gou hay Quinam (tức Hội An) đã “cho ra đời một ý thức về bản sắc Việt Nam, cắm rễ sâu trong môi trường xã hội, văn hóa và thiên nhiên” (Lịch sử kinh tế -xã hội Việt Nam thế kỷ 17-18) của vùng đất này, mang đậm tính hội nhập và sáng tạo! Trong khi trước đó, cách đây tròn 4 thế kỷ, Cristiphoro Borri đã nhận xét rằng “Từ tính tình rất trọng khách và cách ăn ở giản dị mà họ (người Kẻ Chiêm, Faifo) rất đoàn kết với nhau, rất hiểu biết nhau, đối xử với nhau thành thật, rất trong sáng như thể tất cả đều là anh em với nhau, cùng ăn uống và cùng chung sống trong một nhà…”  (Xứ Đàng Trong năm 1621).

Cách đây vài năm, trong dịp hàn huyên đầu năm với ông Nguyễn Sự, nguyên Bí thư Thành ủy Hội An, tôi hỏi: “Tết này, anh tâm đắc điều gì nhất?”, không ngần ngại, ông nói một mạch: Đó là toàn dân Hội An chung lo tết cho người nghèo, toàn dân tự động làm đẹp đường phố và toàn dân nhận lãnh thực hiện các lễ hội văn hóa dân gian như lễ cầu ngư, lễ nghinh ông, lễ dựng nêu ngày tết, lễ cầu bông ở làng rau Trà Quế… Cả thành phố có 80 ngàn dân này còn 600 hộ nghèo và khó khăn, đã được các doanh nghiệp, nhiều nhà hảo tâm đứng ra tổ chức thi nấu bánh tét và mua lương thực, thực phẩm, bánh mứt làm quà xuân mang đến từng nhà. Mới phát động, nhưng toàn bộ người dân xã đảo Cù Lao Chàm tự nguyện không dùng túi ny lon để bảo vệ môi trường. Lượng du khách  mỗi năm đến đảo gấp hơn 20 lần dân số của đảo nên họ ý thức được trách nhiệm bảo vệ sự nguyên lành của vùng sinh quyển thế giới này. Làng rau Trà Quế cũng vậy, trước đây họ chờ ngành du lịch tổ chức lễ cầu bông đầu năm, nay họ tự làm, mà làm hay hơn, hấp dẫn hơn… Ngay như nhóm nhạc Cung Đàn Xưa của các nghệ nhân cao tuổi và trung niên hàng đêm biểu diễn ở góc đường Lê Lợi, cũng là từ tấm lòng của chính họ muốn góp phần mình để xây dựng văn hóa Hội An… Cái gì cũng “toàn dân” cả, ông Sự bảo đó “chính là nét văn hóa cao nhất của Hội An chúng tôi. Đó cũng là ấn tượng mạnh nhất ngày đầu năm của tôi. Ở đâu người dân bị mất lòng tin tôi không biết, chớ riêng Hội An, là vậy!”.

Người Hội An làm nên phố cổ Hội An, không chỉ là những cư dân ở phố cổ. Những người thuộc thế hệ tôi, từng là học sinh Trần Quý Cáp như những anh chị Phạm Phú Ngọc Trai, Nguyễn Thành Sang, Phan Phải, Huỳnh Sơn Phước, Võ Như Lanh, Vũ Đức Sao Biển hay các ca sĩ Ánh Tuyết, Ngọc Lễ… dù ở phương trời nào, hoạt động trong lĩnh vực nào cũng luôn hướng về Hội An với niềm tự hào và trách nhiệm. Người Hội An còn là những người không sinh ra ở đây nhưng đã gắn cả đời mình, sự nghiệp mình ở đây. Họ là các cha xứ châu Âu đã học tiếng từ những người dân để sáng tạo ra chữ Quốc ngữ. Họ là những Thích Đại Sán, Trần Kinh Hòa, Kazik, Trần Quốc Vượng, Nguyễn Văn Xuân… đã góp sức làm cho Hội An trở nên sống động trên thế giới ngày nay.

Nhà văn Nguyễn Tuân khi viết bút ký Cửa Đại năm xưa có một câu nổi tiếng về những món ăn Hội An mà mỗi lần ghé về phố cổ tôi vẫn nhớ: “Nhớ được cái mùi của một nơi, người ta rất còn nên nhớ tới cái tiếng của một nơi nữa”. Cái tiếng ở Hội An, không chỉ là tiếng rao, tiếng leng keng của hàng rong trong đêm, mà còn là tiếng Quảng Nam, tiếng tăm của một vùng đất từng là “kinh tế mở” mấy thế kỷ trước. Và có được “cái tiếng” đó, không ai khác hơn là do chính người Hội An làm nên vậy.

TRƯƠNG ĐIỆN THẮNG