Nói thêm về vè Quảng

;
Thứ Sáu, 21/07/2006, 13:59 [GMT+7]

Có thể nói, vè là đặc trưng tiêu biểu của vùng đất ngũ Quảng : Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đức (Thừa Thiên) Quảng Nam, Quảng Ngãi, mà chủ yếu vẫn là Quảng Nam - Đà Nẵng : “Ai về Ngũ Quảng mà nghe/Nghe thơ Chú Lía nghe vè Quảng Nam”. Quảng Nam - Đà Nẵng có những loại hình văn học dân gian như các vùng khác và cũng có một số làn điệu mang dấu ấn riêng như hò khoan, hò giã gạo, hò chèo đò... Nhưng, nói đến kho tàng văn học dân gian vùng đất này, người ta thường nhắc đến vè Quảng.

Nội dung vè Quảng đề cập đến mọi hoạt động đời thường của xã hội. Vè Quảng phản ánh những tâm tư tình cảm, những nguyện vọng của nhân dân lao động đối với thế lực thống trị và thế lực thiên nhiên.

Vè Quảng ca ngợi, đề cao những tư chất anh hùng, những tấm gương trung, hiếu, tiết, nghĩa. Tiếp đến là những chuyện chống sưu chống thuế, (vè xin xâu, vè chống thuế, vè xin sưu...), hay phản ánh cảnh tù ngục của những người yêu nước bị bọn thực dân phong kiến giam hãm. Vè “Khâm sai” phản ánh sự lùng sục khủng bố của lực lượng thống trị với phong trào của những người yêu nước.

Vè Quảng nói nhiều đến nhân tình thế thái, đạo làm người, quan hệ chồng vợ, tình yêu chung thủy, tình bè bạn, nghĩa thầy trò; đề cập nhiều mặt của đạo đức và giáo lý của người bình dân, nhằm giáo dục người đời coi như một hương ước hay một lệ ước địa phương “trăm năm bia đá thì mòn, ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”. Với người bình dân qua văn học dân gian, mọi điều xảy ra trong xã hội kể cả những trò chơi trẻ con đều có thể hát thành vần vè để truyền tục trong khóm tre làng, dưới những bóng cây cổ thụ, trước một sân đình cổ kính hay dưới ánh trăng trên một cái sân rộng nơi lối xóm với số lượng thính giả đông hoặc một vài người. Răn dạy hay phê phán (Dạy con, Thằng nhác...) trong vè đều có mức độ, người bình thường dễ tiếp nhận. Vè thuộc văn học truyền miệng dù lúc đầu có tác giả, nhưng với thời gian, người nghệ sĩ dân gian quên hẳn tác giả để những bài vè trở thành sản phẩm chung của xã hội. Có những bài vè chỉ ngắn mươi câu; cũng có những bài vè dài hàng nghìn câu, có nhân vật, có chương hồi như một trường ca hay một tiểu thuyết văn vần, người ca sĩ dân gian kể hằng đêm mới hết. Nhưng tất cả những bài vè dù ngắn hay dài, về hình thức nghệ thuật còn phải bàn, nhưng nội dung đều mang đậm giá trị nhân văn.

Nằm trong hệ thống văn học truyền miệng, nên vè Quảng cũng chịu ảnh hưởng hoặc tiếp nhận những bài vè của nhiều vùng đất khác. Ở trường hợp này, có khi người kể vè thay đổi một phần kết cấu, hoặc thay đổi một số tên nhân vật, địa danh... cho phù hợp với địa phương của mình. Và cũng do tam sao thất bản nên một bài vè có nhiều dị bản là không tránh khỏi. Sự phân biệt rạch ròi bài vè này cùng vùng này hay vùng kia là rất khó. Đứng về khía cạnh xã hội học, khi giao lưu văn hóa giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài, giữa vùng này và vùng khác, sự tiếp thu và phát triển là điều khó tránh. Vè Quảng cũng chung trong hoàn cảnh đó, không thoát khỏi hệ lụy truyền thống của dòng văn học dân gian, một dòng văn học truyền miệng.

Sau Cách mạng Tháng Tám (1945), vè Quảng càng phát huy tính năng của nó. Phong trào chống giặc dốt, giặc đói, giặc ngoại xâm... được các phương tiện thông tin đại chúng phát huy mạnh dưới hình thức thơ ca, hò, vè... Vè “Bình dân học vụ”, vè “Kháng chiến chống Pháp”, vè “Du kích đánh Tây”, vè “Kêu gọi tăng gia sản xuất”, vè “Địch vận”... được những người hát rong đi phổ biến khắp các ngõ, chợ cùng quê. Vè đúng là một phương tiện hỗ trợ cho công tác tuyên truyền của tầng lớp tiến bộ của các cấp đảng và chính quyền ở mọi thời kỳ.

Sưu tầm và giới thiệu vè Quảng vào thời điểm này là một việc làm cấp thiết, nhằm lưu giữ vốn quý địa phương, đừng để ngày một ngày hai những cụ ông cụ bà, những người còn thuộc vè, nhớ vè mang sang thế giới bên kia, thì chúng ta có tội với lịch sử, với dân tộc.

Xuân Tùng

.
.
.
.
.