"Dấu ấn Quảng" ở Tây Nam Bộ

;
Thứ Năm, 31/08/2006, 22:45 [GMT+7]

Sông nước Phương Nam.

1. Nếu như ở miền Trung đi đâu cũng gặp núi, thì khi về vùng châu thổ Đồng bằng sông Cửu Long, ngoảnh phía nào cũng thấy sông. Những dòng sông rộng mênh mông, đẻ ra hằng trăm nhánh nhỏ, mà người phương Nam gọi là kinh, là rạch. Chen chúc bên chân sóng là bạt ngàn đước, bần, sú, vẹt, mắm..., rồi tiếp nối bởi những vườn cây ăn trái trĩu quả; những cánh đồng rộng hút tầm nhìn. Sợ tôi "lạc đường" trước quá nhiều những "đặc trưng" ấy, người bạn vong niên gốc miệt vườn và cũng là người dẫn đường, bảo : "Đừng ham, chỉ cần rửa chân ở sông Hậu, sông Tiền; nghe đờn ca tài tử; về vườn ăn trái cây tự chọn và thưởng thức các món ăn của thời khẩn hoang thì xem như... đã đi hết đất chín rồng !".

Mười lăm ngày "cưỡi ngựa xem hoa" qua 12 tỉnh, thành phố Đồng bằng sông Cửu Long, cuối cùng tôi cũng thành người "Nam Bộ đã từng". Không chỉ rửa chân ở sông Tiền, tôi còn được sờ tay vào những thanh gươm thiêng; nghe vang vọng tiếng trống đốc quân của anh em nhà Tây Sơn trong trận đánh đuổi liên quân Xiêm - Nguyễn trên sông Rạch Gầm - Xoài Mút. Không chỉ được uống rượu Phú Lễ, ra đời từ năm 1826 và được mệnh danh là "Nam Bộ đệ nhất tửu", tôi còn được thưởng thức món cá linh non đầu mùa nước nổi; được tắm mình trong ngạt ngào hương thơm và sắc màu của sen Tháp Mười... Bất cứ lúc nào và ở bất cứ đâu, chỉ cần bảo muốn nghe đờn ca tài tử, thế nào cũng được nghe đủ sáu câu vọng cổ. Bởi vậy, không có gì lạ khi mà tất cả các tạp chí văn nghệ và một số tờ báo Đảng địa phương ở miệt đồng bằng rộng lớn này, vẫn thường xuyên đăng tải các bài ca vọng cổ...

2. Một nét tâm lý (và cũng có thể là một nghệ thuật giao tiếp) của người phương Nam là, hễ nghe vị khách phương xa nào bảo mình đến từ miền Trung, bao giờ họ cũng bảo : "Chắc anh và tôi có cùng gốc gác họ hàng". Lý do họ đưa ra thật đơn giản : Ngoài người Thanh - Nghệ, trong số các lưu dân đầu tiên vào khẩn hoang, khai phá, mở ra một vùng phương Nam rộng lớn như ngày hôm nay, có rất nhiều người ra đi từ khu vực Nam Hải Vân.

  
Tượng Thoại Ngọc Hầu ở Châu Đốc (An Giang) và khu tưởng niệm Nguyễn Đình Chiểu.

Hỏi có biết gì về Trấn Thanh Chiêm - Quảng Nam hay không, nhiều người phương Nam lắc đầu không biết. Nhưng bù lại, rất nhiều người biết đưa ra một nghi vấn về sự tiếp biến văn hóa ẩm thực : Món mắm cái Quảng Nam sao mà giống món mắm cá linh xứ này đến vậy ? Cũng đẫm vị muối, cũng sẫm màu đất, cũng dậy mùi đặc trưng mỗi khi mở nắp lu... Người Quảng ăn thịt luộc chấm mắm nêm, mắm cái thường ghém với chuối chát, khế chua; còn người miền Nam ăn thịt luộc chấm mắm cá linh thì ghém với trái bần, lá cách. Khác nhau về rau ghém nhưng vị và lý do sử dụng lại hoàn toàn giống nhau : chuối chát, trái bần đều chát; lá cách và khế đều chua; và đó là hai vị ghém để đánh mùi của mắm, để mỡ heo bớt ngậy... Nhạc sĩ Nguyễn Nhật Nam, Chánh văn phòng Hội Văn học- Nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu (Bến Tre) còn cho biết, tại sân đình làng cổ Phú Tự, nay thuộc xã Phú Hưng, thị xã Bến Tre, có một cây bạch mai và một cây khế 300 tuổi, rồi đưa ra một giả thuyết : "Biết đâu, đây là hai trong số những loài cây được những người mở cõi mang theo từ miền Trung...". Đặc biệt, một nhà khảo cứu (xin giấu tên) ở Bảo tàng Bến Tre tiết lộ một thông tin rất thú vị : Trong số gần 100 bộ gia phả của các dòng tộc đầu tiên đến lập nghiệp ở Bến Tre (chủ yếu ở huyện Ba Tri) vừa sưu tầm được, có 36 bộ là của các dòng họ gốc Quảng Nam. Thông tin nhận được từ phía bạn chỉ có vậy (vì còn trong quá trình nghiên cứu), nhưng tôi và những người bạn Quảng Nam khác vẫn nghe lòng nôn nao, xúc động. Đứng giữa ngã tư trung tâm thị trấn Ba Tri, lặng lẽ nhìn dòng người xe qua lại, không thể nhận ra, nhưng vẫn tin rằng, trong số những người vừa đi qua ấy, thế nào cũng có ít nhất một người là hậu duệ của các bậc tiền bối người Quảng Nam từng lĩnh ấn tiên phong đi khai phá đất phương Nam cách đây mấy trăm năm.

Đờn ca tài tử Nam Bộ.

3. Ngoài những dấu tích còn phủ bóng mờ bởi tồn nghi khoa học cùng những suy luận tạm thời, trên miền đất phương Nam rộng lớn, đã có một số "dấu ấn Quảng Nam" đã được minh định... Khi ghé thăm mộ và nhà tưởng niệm của nhà thơ, nhà giáo, nhà chí sĩ, thầy thuốc Nguyễn Đình Chiểu ở huyện Ba Tri, biết chúng tôi đến từ Quảng Nam, người hướng dẫn ở đây đã bắt đầu câu chuyện về thân thế, sự nghiệp cụ Đồ Chiểu từ việc cụ học nghề thuốc ở Quảng Nam, khi cụ rời Kinh đô Huế về quê chịu tang mẹ. "Người đã truyền nghề thuốc cho cụ Đồ vốn là một ngự y, tên Trung" - người hướng dẫn nhắc đi nhắc lại chi tiết này, rồi bảo : Người dân Ba Tri nói riêng, Bến Tre nói chung bao đời nay vẫn truyền tụng nhau nghĩa cử cao cả và tài chữa bệnh cứu người của cụ Đồ Chiểu. Và, ai cũng hằng mong một ngày nào đó tìm được quê xứ cụ thể của ngự y tên Trung cùng những hậu duệ của người ở Quảng Nam... Còn ở Bến Tre hiện nay, có khá nhiều lương y tự nhận mình là đệ tử nhiều đời của các môn đệ cụ Nguyễn; các cơ quan chức năng tỉnh Bến Tre cũng đã tìm được 2 vị lương y có quan hệ huyết thống với cụ Đồ. Và, điều xúc động là, trong ngày giỗ sư tổ (cụ Nguyễn Đình Chiểu) hằng năm, các lương y ở Ba Tri lại tưởng vọng về Quảng Nam, nơi có bậc tiền bối tên Trung, người đã truyền nghề thuốc cho sư tổ của mình.

Ngoài những dấu tích còn phủ bóng mờ bởi tồn nghi khoa học cùng những suy luận tạm thời, trên miền đất phương Nam rộng lớn, đã có một số "dấu ấn Quảng Nam" đã được minh định... Khi ghé thăm mộ và nhà tưởng niệm của nhà thơ, nhà giáo, nhà chí sĩ, thầy thuốc Nguyễn Đình Chiểu ở huyện Ba Tri, biết chúng tôi đến từ Quảng Nam, người hướng dẫn ở đây đã bắt đầu câu chuyện về thân thế, sự nghiệp cụ Đồ Chiểu từ việc cụ học nghề thuốc ở Quảng Nam, khi cụ rời Kinh đô Huế về quê chịu tang mẹ. "Người đã truyền nghề thuốc cho cụ Đồ vốn là một ngự y, tên Trung" - người hướng dẫn nhắc đi nhắc lại chi tiết này, rồi bảo : Người dân Ba Tri nói riêng, Bến Tre nói chung bao đời nay vẫn truyền tụng nhau nghĩa cử cao cả và tài chữa bệnh cứu người của cụ Đồ Chiểu. Và, ai cũng hằng mong một ngày nào đó tìm được quê xứ cụ thể của ngự y tên Trung cùng những hậu duệ của người ở Quảng Nam... Còn ở Bến Tre hiện nay, có khá nhiều lương y tự nhận mình là đệ tử nhiều đời của các môn đệ cụ Nguyễn; các cơ quan chức năng tỉnh Bến Tre cũng đã tìm được 2 vị lương y có quan hệ huyết thống với cụ Đồ. Và, điều xúc động là, trong ngày giỗ sư tổ (cụ Nguyễn Đình Chiểu) hằng năm, các lương y ở Ba Tri lại tưởng vọng về Quảng Nam, nơi có bậc tiền bối tên Trung, người đã truyền nghề thuốc cho sư tổ của mình.

Ngược sang mạn biên giới Tây Nam, lại gặp thêm một "dấu ấn Quảng Nam" sừng sững. Trước khi mời khách Quảng Nam thưởng thức mấy món đặc sản vùng Thất Sơn, nhà thơ Trịnh Bửu Hoài, Chủ tịch Hội Văn học- Nghệ thuật An Giang, đã "gợi ý" nên đi tham quan kênh Vĩnh Tế và viếng lăng mộ Thoại Ngọc Hầu. Ông bảo, đây chính là dấu ấn, là niềm tự hào của người Việt nói chung trong hành trình mở cõi. Và, nó còn là niềm tự hào của An Giang, của quê hương xứ Quảng. Bởi lẽ, Thoại Ngọc Hầu là người Diên Phước, Quảng Nam; từng giữ chức Trấn thủ Cai cơ Định Tường, Trấn thủ Vĩnh Thanh (gồm An Giang và Vĩnh Long ngày nay); là một trong những người có công đầu trong việc lập ra vùng đất "Châu Đốc tân cương"; là người khai mở 3 con đường từ Gia Định đến Nam Vang. Và, sở dĩ vùng Tứ giác Long Xuyên trở nên trù phú như hôm nay cũng là nhờ công lớn của Thoại Ngọc Hầu : Ông là người khởi xướng và lãnh đạo việc đào kênh Vĩnh Tế, nối từ Châu Đốc (An Giang) đến Hà Tiên (Kiên Giang) - một con kênh có chức năng thau chua, rửa mặn, thoát lũ cho cả vùng tứ giác rộng lớn này... Và, có một điều lý thú nhưng không nhiều người biết là, Thoại Ngọc Hầu không chỉ là nhà quân sự, nhà kinh tế có tầm nhìn chiến lược mà còn là nghệ sĩ. Rất mê tuồng, nên khi vào trấn giữ đất này, ông đưa theo cả một đoàn tuồng. Trước khi chết, ông còn sai quan binh chọn một phần đất trong khuôn viên dự định xây mộ của mình để làm nơi yên nghỉ cho một kép chính và một đào chính, cùng nhiều dân phu, dân binh tử nạn khi đào kênh Vĩnh Tế... Hằng năm, người dân vùng Tứ giác Long Xuyên đến lễ bái ông rất đông. Và, theo một người bạn ở Châu Đốc, ngoài việc tri ân người mở đất, người dân nơi này đến với Thoại Ngọc Hầu còn vì ông là một vị quan thanh liêm, chính trực, biết sống vì dân và sống rất gần dân...

Nghĩa trang liệt sĩ huyện
Vĩnh Hưng (Long An)

 Theo ông Nguyễn Văn Thanh, Chủ tịch UBND huyện Vĩnh Hưng (Long An), trong lịch sử trung đại như thế nào thì chưa rõ (do chưa xác định được), còn trong lịch sử hiện đại và đương đại, người Quảng Nam đã có mặt, cùng đóng góp công sức và máu cho mảnh đất cực tây nam Tổ quốc này. Cụ thể, trong số 1.538 liệt sĩ đang yên nghỉ tại nghĩa trang liệt sĩ huyện, có một người quê ở Quảng Nam, là liệt sĩ Phạm Văn Thái (không rõ năm sinh, quê quán cụ thể), hy sinh ngày 7-2-1967. Ngoài ra, trong số hàng trăm liệt sĩ vô danh ở đây, rất có thể cũng có người quê gốc Quảng Nam... Và, theo thống kê mới đây nhất, ở Vĩnh Hưng hiện cũng có 5 hộ, với khoảng 20 nhân khẩu, là người Quảng Nam, cư trú ở khu vực kênh Cái Cỏ, xã Khánh Hưng, giáp ranh với xã Cà Đúa (tỉnh Xvay Riêng, Campuchia).  P.V

Phan Chí Anh

.
.
.
.
.