Thư miền Tây (Lá thư thứ bảy) : Bão miền Trung, lũ miền Tây

;
Thứ Năm, 19/10/2006, 11:19 [GMT+7]

Lũ ở miền Tây
Quân thân mến,

Khi mình viết thư này cho Quân, thì đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) mùa mưa lụt đã lên gần tới đỉnh lũ. Nhiều nơi nước lũ đã tràn ngập phá vỡ các bờ đê, bao ngạn. Như vậy là thêm một lần nữa, người dân ĐBSCL lại “sống chung với lũ”. Cụm từ ấy do nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt nói ra, và bây giờ nó trở thành như một định đề dành cho cuộc sống của người dân Nam Bộ trong mùa lũ hằng năm. “Sống chung với lũ" nghe như dễ dàng, nghe như đồng điệu mà thật ra nó chua xót, cam chịu, phải chấp nhận, chẳng đặng đừng... Bởi cái lũ ở ĐBSCL nó ngâm dai dẳng trên đồng ruộng mênh mông. Ngày xưa, người dân chỉ còn biết ở đó, sống trên thuyền, trên nước, trên ruộng đồng ngập nước trắng xóa mênh mông. Mỗi gia đình một chiếc thuyền ba lá, người ta có thể đặt lợp, thả lờ, bủa lưới, giăng câu kiếm sống trong những ngày lũ về, lũ ở, lũ đi... Thế mà lũ nó hiền hòa, nó không cuồn cuộn cuốn đi những bãi biền, nhà cửa, hoa màu, tàn phá cuộc sống của người dân như ở quê mình. Lũ ở miền Nam đem phù sa bồi đắp cho ruộng vườn để cho vụ mùa sau xanh tốt. Cho nên năm nào ĐBSCL vắng lũ thì đất nhớ, người trông.

Còn ở quê nhà, người dân quanh năm làm ăn vất vả, không dám tiêu xài, phải lo dành dụm từng đồng để tu bổ nhà cửa, bồi đắp ruộng vườn. Hễ cứ đến tháng 7, tháng 8 âm lịch đã lo thót ruột, mà có năm nào được tha đâu ! Không lụt lớn thì cũng bão to, nhà xiêu vách đổ, vườn tược tiêu điều. Những năm gần đây, thời tiết thay đổi thất thường hơn, bão lụt liên tiếp ập xuống quê hương như trời đất giận dữ gì cái mảnh đất “hay cãi” này. Quanh năm lo chống bão với lụt, sức đâu mà chịu nổi. Tôi còn nhớ, những ngày còn ở quê nhà cũng đã trải qua những mùa bão lụt ngậm đắng nuốt cay, mà thời ấy cũng chỉ thấy có “cây” lụt năm Thìn (1964) là khiếp vía. Nước sông Thu Bồn, sông Vu Gia dâng lên từng giây, từng phút như lũ ống trên núi, không chạy kịp. Năm ấy, mẹ mình cứ leo lên gác, nước dâng lên gác, nước dâng lên tới “khu đĩ”, mẹ leo lên ngồi trên nóc nhà suốt đêm mưa gió, cầm cự chờ người đến cứu. Bảy giờ sáng hôm sau, anh em trong làng bơi thuyền nan đi cứu người đã cứu mẹ mình. Tính từ mức nước sông Thu Bồn vào mùa hè, trận lụt năm Thìn (l964) đã dâng lên đến 25 mét, cả làng Đại Bình cũng như những làng trong tỉnh Quảng Nam ruộng vườn gần như đảo lộn...Sau lụt năm ấy, ngoài những thúng khoai lang ngập nước còn sót lại, gia đình không còn gì để ăn. Đói. Lạnh. Và buồn vì có quá nhiều người chết, mà chiến tranh thì vẫn còn tiếp diễn. Thôi, không kể chuyện năm Thìn nữa! Đến trận bão Hester năm 1971, gió dữ cũng chỉ chín mươi đến một trăm mấy cây số/giờ mà đã trốc gốc hàng kiền kiền ở đường Quang Trung (Đà Nẵng). Đâu có đến nỗi khủng khiếp như trận bão số 6 thổi vào quê nhà vừa rồi. Cho đến giờ tôi vẫn không nghĩ ra, cây bão số 1 không thổi vào đất liền thì bão cướp đi người dân của quê hương ở biển khơi, để lại biết bao nhiêu tang thương, đau khổ. Đến cây bão số 6 lại thổi vào ngay Quảng Nam - Đà Nẵng cướp đi bao tài sản, hoa màu, nhà cửa của bà con quê nhà.

Điều đáng mừng trong công tác đối phó với bão số 6 là sự sáng suốt, đề phòng, chuẩn bị chu đáo về mọi mặt của Chính phủ và chính quyền các địa phương. Có thể nói, lần này Ban Chỉ đạo phòng chống lụt bão Trung ương và địa phương đã làm việc rất nhịp nhàng bài bản trước, trong và sau cơn bão dữ.

 Bão ở miền Trung
Nhưng, nhìn lại những năm tháng đã qua, biết bao nhiêu biến đổi khôn lường, biết bao nhiêu thiên tai đã trút xuống quê nhà. Tôi nghĩ, có lẽ phải có một phương án nào đó để có thể khắc phục bớt những thiệt hại do bão lụt hằng năm đối với người dân. Quân ơi, không biết chính quyền các địa phương có nghĩ đến giải pháp cần phải cải tạo, quy hoạch lại một số vùng mà xưa nay bị bão lụt tàn phá nhiều nhất . Hình thế địa lý Quảng Nam lại có quá ít sông ngòi, đầu nguồn thường là dòng sông nhỏ, núi non trùng điệp, độ dốc quá lớn. Lượng mưa quá nhiều, cho nên mọi biến động về dòng chảy, thời tiết, triều cường đã tạo nên những thiên tai bão lụt quanh năm không thể nào lường được. Tôi không phải  là nhà khoa học, tôi không đủ tầm nhìn để có thể tìm ra một biện pháp thích nghi với điều kiện của địa phương. Nhưng tôi tin là với tấm lòng thương dân của những nhà lãnh đạo, những nhà khoa học của Quảng Nam - Đà Nẵng sẽ quyết tìm ra một giải pháp thực tế và hữu hiệu có thể giải hóa bớt những thiên tai trong tương lai . Theo tôi nghĩ, nếu cần chúng ta có thể đào sông, xẻ núi , quy hoạch lại làng mạc, nhà cửa để có thể tránh và chịu đựng được những trận bão lớn, những trận lụt to. Bởi vì, quê ta như là một cái bao lơn nhìn thẳng  ra Thái Bình Dương, Quảng Nam - Đà Nẵng luôn đưa cái lưng ra gánh chịu bao nỗi  khó khăn của mọi thời tiết. Mà gió, lửa, nước là những yếu tố tàn phá cũng là những yếu tố gầy dựng mọi cơ sở vật chất trên mặt đất này. Nếu chúng ta nhìn thấy được những ưu thế, những nhược điểm của gió, lửa, nước mà vận dụng thiết thực vào đời sống thì  nhân dân ta hạnh phúc biết chừng nào.

Tất cả những điều mà Chính phủ và chính quyền Quảng Nam đã đem lại cho người dân trong những ngày bão lụt vừa qua thật đáng hoan nghênh. Cũng như việc người dân Bình Minh (Thăng Bình) xây hầm tránh bão cần được tuyên dương và nhân rộng phương cách này thêm ra. Từ đó chúng ta có quyền tin rằng, Quảng Nam - Đà Nẵng sẽ có một bộ phận nghiên cứu để ứng dụng hiệu quả giải pháp đồng bộ nhằm ứng phó và khắc phục hậu quả bão lụt trong tương lai gần.

QUẾ TIÊN

.
.
.
.
.