Thư miền Tây (lá thư thứ năm) : Miếu thờ cụ Hoàng Diệu ở cảng Cần Thơ

;
Thứ Bảy, 07/10/2006, 07:37 [GMT+7]

Quân thân mến,

Mình lại lỡ hẹn với  cậu về chuyến đi thăm bà con Quảng Nam ở biên giới Tây Nam. Thôi thì, chúng ta về thăm miếu thờ cụ Phó bảng Hoàng Diệu ở cảng Cần Thơ vậy. Cảng Cần Thơ nằm phía tây thành phố cách chừng 5 cây số. Qua khỏi cầu Bình Thủy đã thấy cảng Cần Thơ tọa lạc trên bờ sông Hậu mênh mông. Một buổi sáng đầu thu, mưa đã tạnh từ đêm qua, cảnh vật chung quanh khu cảng như vừa được  rửa sạch, nắng sớm lấp lánh trên những thân tàu vừa cập bến, một ngày mới nhộn nhịp bắt đầu.

Câu chuyện  cũng  từ anh  công nhân cảng, đã lớn tuổi, anh  kể với chúng tôi: “Miếu thờ cụ Hoàng Diệu ở cảng này, có người còn gọi đền thờ cụ Phó bảng. Ngày trước miếu thờ cụ nằm cạnh khu nhà kho giữa cảng. Sau này dời về phía đông của cảng rộng rãi, khang trang  hơn”. Chúng tôi vào trong miếu thắp nhang lễ cụ Hoàng Diệu. Khu miếu thờ rộng khoảng 50 mét vuông, tường gạch mái ngói, sơn son thếp vàng. Bên trong, trên bệ thờ bức chân dung cụ Phó bảng lớn cỡ 40x60cm. Hai bên là 2 bức hình bia mộ cụ ở quê nhà. Tấm bia đá lớn đặt trước bình phong khắc tên cụ Phó bảng Hoàng Diệu cùng các chức danh mà cụ đã kinh qua trong suốt 30 năm làm quan, một vị quan đại thần thanh liêm, một đời vì dân vì nước.

Ngoài sân  miếu, phía bên phải cây bồ đề gốc to hai người ôm, tàn lá che mát cả một vùng. Phía bên trái là cây hoàng hậu, bảy tám năm trước đây cảng đã dùng xe cẩu về, trồng ở đây, nay đã cao lớn đầy hoa. Anh công nhân kể tiếp : “Qua các đời giám đốc cảng, cũng như anh em công nhân chúng tôi luôn luôn tin tưởng rằng cái linh khí của người anh hùng Hoàng Diệu, là một gương sáng cho mọi người noi theo. Cho nên, ở đây, chúng tôi thờ cụ rất trang nghiêm. Du khách đến tham quan cũng như các tàu  cập bến cảng họ đều vào miếu thắp nhang lễ cụ”.

Cụ Phó bảng Hoàng Diệu sinh ngày 25-3-1828 tự là Quang Viễn, hiệu Tịnh Trai, quê làng Xuân Đài, huyện Điện Bàn. Xuất thân trong một gia đình nho học, 6 anh em đều đổ đại khoa (cử nhân, phó bảng) cùng làm quan triều Nguyễn. Năm 25 tuổi Hoàng Diệu đỗ Phó bảng, ra làm quan Tri huyện, Án sát rồi Bố chánh, Tham tri Bộ hình, Bộ lại đến Viện Đô sát dự vào Viện Cơ mật, rồi Tổng đốc, Phó Toàn quyền đại thần thương thuyết với sứ bộ Y Pha Nho (Tây Ban Nha). Trong 30 năm làm quan, cụ nổi tiếng là một vị quan công minh và thanh liêm. Năm Canh Thìn 1880, với chức  vụ Tổng đốc Hà Ninh (Hà Nội - Bắc Ninh), lúc bấy giờ giữa triều đình Huế và quân Pháp rất căng thẳng, Tổng đốc Hà Ninh ráo riết chuẩn bị và sẵn sàng đối phó với thực dân, mặc dù không được sự đồng thuận của vua Tự Đức. Ngày 25-4-1882 (8-3 Nhâm Ngọ), H.Rivière gửi tối hậu thư cho Tổng đốc Hà Ninh đòi Tổng đốc Hoàng Diệu  giao nộp thành Hà Nội, giải giới quân đội. Không được Tổng đốc Hoàng Diệu trả lời, Đại tá H.Rivière mở cuộc tấn công với hơn 4.000 bộ binh  cùng sự yểm trợ của 4 tàu chiến. Tổng đốc Hoàng Diệu quyết chống trả mãnh liệt. Nhưng trước hỏa lực quá chênh lệch, mặt khác một số quan quân làm nội tuyến cho giặc, như Tôn Thất Bá đốt kho thuốc súng, Bố chánh Nguyễn Văn Tuyển, Đề đốc Lê Trinh và các lãnh binh bỏ chạy. Tuần phủ Hoàng Hữu Xứng trốn trong hành cung. Trước tình hình nguy ngập, Hoàng Diệu thảo tờ di biểu rồi ra trước Võ miếu dùng khăn bịt đầu thắt cổ tự tử để bảo toàn chính khí, nêu cao gương tiết nghĩa. Theo tác giả Xuân Đài Hoàng Hưng cháu nội của Tổng đốc Hoàng Diệu thì lúc bấy giờ các giới sĩ phu, văn thân và nhân dân Bắc Hà cùng đồng bào cả nước vô cùng khâm phục, thương tiếc trước cái chết khí tiết của cụ. Tôn Thất Thuyết, một sĩ phu nổi tiếng chống Pháp, đã ca ngợi ông Hoàng Diệu trong câu đối:

Nhất tử thành danh, tự cổ anh hùng phi sở nguyện;
Bình sinh trung nghĩa, đương niên đại cuộc khởi vô tâm
Dịch : Một cái chết đã thành danh, đâu phải anh hùng nguyện trước;
Bình sinh trung nghĩa, đương trường đại cuộc tất lưu tâm.

Đến năm Tự Đức 36, linh vị cụ được nhà vua chuẩn cho thờ tại miếu Trung nghĩa Huế và đền Tam Trung Hà Nội, đến sau đời Thành Thái đổi là Trung Liệt miếu tại gò Đống Đa trên đường Hà Nội - Hà Đông thờ chung cùng ông Nguyễn Tri Phương với câu đối :

Thử thành quách, thử giang sơn
Bách chiến phong trần dư xích địa;
Vi nhật tinh, vi hà nhạc
Thập niên tâm sự vọng thanh thiên
Dịch : Kìa thành quách kìa non sông
Trăm trận phong trần trơ đất đỏ;
Là trời sao, là sông núi
Mười năm tâm sự thấu trời xanh.

Hằng năm, đến ngày 8-3 âm lịch, anh chị em đồng hương Quảng Nam - Đà Nẵng lại về Long Phú, Sóc Trăng dự ngày kỵ giỗ cụ Phó bảng Hoàng Diệu tại nhà anh Hoàng Dũng, cháu cố của cụ.

QUẾ TIÊN

.
.
.
.
.