Người Quảng ở Cà Mau

;
Thứ Sáu, 22/12/2006, 10:47 [GMT+7]

Người Quảng hòa nhập cùng sông nước Cà Mau để vươn lên trong cuộc sống.

Cà Mau, vùng đất trẻ của  miền sông nước cực nam Tổ quốc, lâu nay trở thành địa chỉ thu hút người dân từ mọi miền của đất nước về đây sinh sống, trong số đó có cộng đồng người Quảng. Đã có khá nhiều thế hệ người Quảng đến lập nghiệp trên vùng sông nước này với khoảng vài chục nghìn người. Cộng đồng người Quảng nơi đây vẫn mang trong mình dòng máu cần cù, lam lũ, chịu khó và cũng rất thông minh, giàu lòng nhân nghĩa, mộc mạc, khiêm tốn… từ xứ sở “chưa mưa đà thấm”.

Lịch sử những chuyến ly hương...

Lần giở lại chiều dài lịch sử, phần đông người Quảng di cư đến Cà Mau lần đầu tiên là vào các năm 1954 và 1957 do chính sách nham hiểm của Mỹ - Diệm là chia cắt đồng bào với cách mạng. Vì thế, hầu hết các gia đình được đưa vào Cà Mau thời bấy giờ đều có quan hệ khắng khít với cách mạng. Có gia đình là cơ sở của ta, có gia đình có cha, mẹ, anh, chị, em, con, cháu… tham gia cách mạng hoặc giữ các chức vụ quan trọng trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Ngoài ra, cũng có một bộ phận đồng bào có đạo nghe theo lời xúi giục, kích động của Mỹ - Diệm mà rời bỏ quê hương đi vào Cà Mau sinh sống để “tẩy chay”, bất hợp tác với cộng sản. Cũng trong thời gian trên, một bộ phận người Quảng khác được Mỹ - Diệm đưa vào Bến Tre, nhưng sau đó bà con tự bỏ về Cà Mau.

Sau khi được đưa đến Cà Mau, bà con người Quảng được đưa vào tập trung ở ba khu trù mật của Mỹ - Diệm ở huyện Đầm Dơi là ấp Tân Hồng (nay thuộc xã Tạ An Khương Nam); ấp Tân Dân - Tân Phú - Lân Long (nay là xã Tân Hiệp); ấp Lâm Trung Thiên (nay là xã Thanh Tùng). Từ cơ sở ban đầu là ba khu trù mật trên, dần dần bà con phân tán về các huyện Trần Văn Thời (như xóm Huế - xã Khánh Bình Tây Bắc, xã Khánh Bình Đông, xã Khánh Hải và thị trấn Sông Đốc), huyện U Minh, thành phố Cà Mau và một bộ phận sang Kiên Giang.

Ban đầu, người Quảng đến Cà Mau với đôi bàn tay trắng và trước mặt là những cánh rừng tràm, rừng đước ngập nước bạt ngàn, đầy lau sậy, nhiều nguy hiểm như thú dữ, bệnh tật, thiếu nước ngọt… Nhưng đồng bào đã không chịu bó tay, họ tự dựng lều, đào đất khai hoang, phát cây, dọn cỏ mở rừng thành vườn ruộng, xuống sông mò cua, bắt cá, rồi trồng lúa, nuôi cá, nuôi tôm… Nhờ đó, kinh tế không những đủ ăn mà còn dư thừa. Rồi con cháu trưởng thành, đồng bào lại dựng vợ, gả chồng cho chúng. Xóm ấp ngày thêm đông vui, trù phú.

Bản sắc và sức sống mang tên Quảng Nam

Ngày nay, khi đến thăm các gia đình Người Quảng ở các huyện Đầm Dơi, Trần Văn Thời, U Minh… đâu đâu cũng thấy cuộc sống sung túc, no đủ, con cháu hiếu thảo, được học hành đến nơi đến chốn, có người bây giờ là lãnh đạo của Đảng, chính quyền các cấp, có người là doanh nhân… điều đáng nói là mặc dù bà con người Quảng đã “sinh cơ lạc nghiệp” nhiều đời tại đây nhưng vẫn còn lưu giữ được “cái hồn” đất Quảng trong mỗi gia đình, dòng họ. Đó là truyền thống gia đình, dòng tộc tôn nghiêm, trên dưới, vai vế khá chặt chẽ; vẫn lưu giữ những món ăn truyền thống trong ngày giỗ, tết như mì Quảng, bánh tráng, bánh xèo nhân tôm - giá đậu, bánh chưng lá dừa... Có những món ăn dân dã mà người Cà Mau cũng rất thích như khoai lang chà khô (khoai chà), mắm ruốc, tôm khô... cùng với cách trang trí, bày biện nội thất trong gia đình cho đến kiến trúc ngôi nhà, bàn thờ tổ tiên, gia phả ông bà... Và đặc biệt hơn hết, không thể “nhầm” người Quảng với bất kỳ một người ở vùng nào khác bởi giọng Quảng, tính cách Quảng trong giao tiếp, trong đối nhân xử thế, trong các bài dân ca, hò vè Quảng, bài hát ru của các bà, các mẹ, các chị.

Ngoài ra, một nét đẹp văn hóa sinh hoạt khác được bà con người Quảng du nhập vào cộng đồng người Cà Mau nói chung để bây giờ nó trở thành một lễ hội dân gian khá nổi tiếng. Đó là Lễ hội nghinh ông (thờ cúng cá ông) của các ngư dân đi biển Quảng Nam mang theo. Lễ hội diễn ra trong thời điểm trung tuần tháng tư hằng năm ở thị trấn Sông Ông Đốc, thu hút khá đông bà con ngư dân miền biển vùng Cà Mau - Kiên Giang và du khách thập phương về hành hương. Bà con người Quảng tuy vẫn lưu giữ trong mình bản sắc văn hóa, “cái hồn” của nơi quê cha đất tổ, song sau thời gian cộng cư, đã có biểu hiện của sự pha trộn khá hoàn hảo về văn hóa với người dân Cà Mau. Có thể thấy rõ điều này từ trong quá trình khai hoang khẩn hóa đất đai, hòa nhập với sông nước, biển cả… đến các mối quan hệ giữa người với người, với gia đình, cộng đồng xã hội...

Có lẽ chính tố chất mộc mạc, khiêm tốn, cần cù, chịu khó chảy trong dòng máu Quảng đang hòa trộn với các tố chất ngang tàng, chất phác, ân cần và thẳng thắn của người miền sông nước Cà Mau đã giúp cho người Quảng ở Cà Mau hòa nhập rất tốt, biết khắc phục mọi khó khăn, không đầu hàng với hoàn cảnh để vươn lên bảo đảm cuộc sống gia đình. Lịch sử cũng đã ghi nhận nhiều tấm gương chiến sĩ là con em gốc Quảng Nam sinh ra và lớn lên trên những miền quê Cà Mau, rồi cầm súng chiến đấu bảo vệ từng tấc đất, cánh rừng, từng bờ kênh, con sông và đã anh dũng hy sinh. Cả hình ảnh những bà mẹ xứ Quảng âm thầm nuôi giấu cán bộ, liên lạc, làm cơ sở cho cách mạng dù bị địch tra tấn dã man vẫn không hề khai báo...

Như vậy, kể từ cái mốc lịch sử năm 1954, 1957, cư dân đất Quảng vào Cà Mau trong tình thế bị bắt buộc, cùng với các thế hệ “nam tiến” kế tiếp vì nhiều lý do khác nhau (trong đó chủ yếu là lý do kinh tế) đã thực sự xem Cà Mau là miền đất hứa, an cư lạc nghiệp. Và tất nhiên, hằng ngày họ vẫn bình dị lao động, sáng tạo, đóng góp một phần công sức, trí tuệ cho quê hương thứ hai - Cà Mau - ngày thêm giàu đẹp.

NGUYỄN ĐÌNH TĂNG

.
.
.
.
.