Một vùng lõm Quảng Nam trên đất Sài Gòn

;
Thứ Sáu, 31/08/2007, 03:30 [GMT+7]

Làng dệt Bảy Hiền. Ảnh tư liệu

Ngược dòng lịch sử, Sài Gòn - nơi sinh cơ lập nghiệp của đa phần người dân quê Quảng Nam bị giặc ngoại xâm triệt hạ xóm làng phải bồng bế nhau chạy vào quần tụ tại vùng Gia Định từ những năm giữa thế kỷ XVI. Sài Gòn, tiếng gọi xa xăm của miền đất hứa đã giục giã bao lớp dân đen hối hả lao theo tiếng hú của đoàn tàu, tìm vào phương Nam mong thoát khỏi cảnh lầm than, nô lệ... Sài Gòn, nơi dung thân và đất dụng võ của những chí sĩ yêu nước và những người hoạt động cách mạng mà tên tuổi còn lưu danh muôn thuở... Sài Gòn, nơi lánh nạn của đông đảo lớp người kháng chiến, sau Hiệp định Giơ-ne-vơ bị sự khủng bố và truy bức của kẻ thù... Sài Gòn cũng là nơi "điều lắng" của nhiều cán bộ kháng chiến được chuyển vùng từ Quảng Nam - Đà Nẵng vào hoạt động trong lòng địch. Nhiều thế hệ con cháu quê hương đất Quảng được cưu mang và trưởng thành trên quê hương mới Sài Gòn - Gia Định (nay là Thành phố Hồ Chí Minh), đã và đang tiếp tục đóng góp xương máu vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng mảnh đất thiêng liêng của Tổ quốc.

Tiêu biểu cho truyền thống và tính cách người Quảng khi vào sinh cơ lập nghiệp tại Sài Gòn, có thể nói là khu cư dân Bảy Hiền - một vùng lõm Quảng Nam trên đất Sài Gòn. Từ sau Hiệp định Giơ-ne-vơ (7-1954), hàng loạt người dân vùng canh cửi của Điện Bàn, Duy Xuyên bị địch khủng bố phải bỏ làng quê chạy vào Sài Gòn tìm đường sinh sống. Những người đầu tiên đến lập nghiệp tại vùng Bảy Hiền, ngày nay còn được nhắc  đến danh tánh như Hồ Viết Thanh (Chín Viết), Hồ Non (khoảng 1956-1957) và tiếp theo là Huỳnh Đắc Thi, Lê Hoành, Võ Lẫm, Võ Đảo, Phan Thanh Quang, Hồ Trung, Hồ Thơ, Hai Trúc, Ba Ngàn... (khoảng 1958-1959). Họ là những người đã khai phá và lập nên làng dệt Quảng Nam tại Bảy Hiền, phát triển mạnh mẽ trong những năm 1960-1965 và trở thành một khu công nghệ dệt từ trước ngày giải phóng. Từ chỗ chỉ có mươi nóc nhà dựng lên cạnh khu rừng cao su trên khoảnh đất thuê của ông cai tổng người ở Hóc Môn, những người lập nghiệp đầu tiên của khu Bảy Hiền lúc bấy giờ chỉ nhận làm công cho các chủ xưởng dệt ở Lò Chén (quận 6), Hạnh Thông Tây (Gò Vấp), Chợ Cầu (Hóc Môn)... Sau đó đã mọc lên nơi đây một nhà hồ sợi đầu tiên có tên là xưởng hồ "Quảng Nam Hưng" do anh em ông Võ Lẫm và ông Quý, ông Sính chung sức xây dựng. Chỉ vài năm sau (khoảng 1960-1961), khu dệt Bảy Hiền đã có khoảng 4.000 dân sinh sống, hình thành một khu tập trung những người dân đất Quảng-một khu cư dân mới giữa lòng đô thị Sài Gòn. Điểm nổi bật của khu cư dân này là tính cộng đồng của những người bà con cùng quê sống trên đất khách, ra sức đùm bọc và giúp đỡ nhau, đoàn kết trong đấu tranh để sinh tồn và phát triển.

Cũng từ đó, chính quyền Sài Gòn bắt đầu đối phó với mầm mống "tự trị" và chống chế độ của những người dân Quảng Nam tại Bảy Hiền. Chúng cô lập khu Bảy Hiền thành một khu cư dân đặc biệt với tên gọi mị dân là "khu trù mật", thuộc ấp Chí Hòa và tiến hành các biện pháp kiểm soát, quản lý rất chặt chẽ. Nói là "khu trù mật", nhưng vốn là một vùng đất trũng, luôn ngập nước vào mùa mưa, đường sá quanh co, khúc khuỷu, thiếu điện thiếu nước, điều kiện sinh sống rất cực khổ. Người dân phải tự lo mọi thứ cho cuộc sống, còn "chính quyền" chỉ bận tâm mỗi một việc là theo dõi, kiểm soát và tổ chức các cuộc hành quân vây ráp hòng dập tắt các mầm mống cách mạng tại nơi đây. Trong tình thế đó, bà con càng thắt chặt tình tương thân tương trợ, bảo bọc nhau trong cuộc sống và đoàn kết đấu tranh với kẻ thù, giữ vững truyền thống và bản sắc của người con dân đất Quảng. Nhờ giỏi nghề dệt và có ý chí tự lập, cần cù lao động nên nhiều người nhanh chóng trở nên khấm khá. Một số người làm nên cơ nghiệp và có tên tuổi như Võ Quý, Võ Lẫm, Tạ Ngọc, Hồ Trung, Phan Thanh Quang... nổi tiếng một thời trong ngành tơ sợi của Sài Gòn - Chợ Lớn.

Cuộc sống khá dần, bà con có điều kiện giúp nhau xây dựng nhà cửa, tôn tạo đường sá ngày càng khang trang, sạch đẹp. Cả một khu phố dệt ngày đêm rầm rập tiếng thoi đưa, máy chạy; rộn ràng sức sống. Đầu trên xóm dưới toàn là người bà con quen biết; vì thế, "kẻ lạ mặt" lảng vảng vào là được "nhận diện" và báo động ngay. Và ai là "người của mình" thì bà con cũng biết, "để bụng" thương yêu và tin tưởng. Trong nhà, ra đường, tiếng nói câu chào vẫn giữ đúng chất giọng quê ta; trai gái, trẻ già vẫn thích thú với tô mì Quảng, bát chè tươi; say mê giai điệu tuồng, câu hò khoan, tiếng hô bài chòi trong những dịp hội hè. Cả năm lao động cật lực, tết đến, người dân Bảy Hiền được dịp nghỉ ngơi, rộn ràng đón tết theo tập tục cổ truyền của ông bà. Chợ Bà Hoa ở đây cũng như bất cứ một khu chợ nào của quê nhà, thường ngày có đủ các thức ăn đặc sản Quảng Nam; ngày tết càng thêm nhiều màu sắc với đủ loại bánh mứt quê hương, không thiếu thứ gì. Người mua, kẻ bán chào hỏi thân tình, đối xử gần gũi như người trong xóm trong làng. Bên cạnh việc làm ăn sinh sống, điểm nổi bật của hầu hết gia đình bà con ta là quyết chí chăm lo việc học hành cho con cháu. Lớp trẻ trước ngày giải phóng (1975) phần đông được học hết bậc trung học và một số em học giỏi được cha mẹ cho đi du học nước ngoài, có người đã thành đạt. Cha mẹ thấm thía cuộc đời thất học trong thời đất nước bị nô lệ, càng coi trọng việc học của con cháu; dù lao động vất vả vẫn quyết chí cho con ăn học để mong được đổi đời và nên người.
Bên cạnh việc làm ăn, phần đông bà con khu Bảy Hiền vốn là những người "kháng chiến" của quê hương Quảng Nam "trung dũng kiên cường", bị địch khủng bố phải lánh nạn vào Sài Gòn, nhưng vẫn một lòng một dạ với cách mạng, luôn nung nấu ý chí đấu tranh chống lại kẻ thù. Nhiều người tham gia hoạt động cơ sở bí mật nội thành; có người thoát ly ra vùng căn cứ và cũng không ít người đã hy sinh vì sự nghiệp chống Mỹ cứu nước. Người dân đầu tiên được cách mạng bố trí vào nội tuyến trong bộ máy ngụy quyền ấp Chí Hòa, phụ trách khu Bảy Hiền là ông Hồ Văn Mỹ (quê Duy Xuyên), vốn là người đã từng tham gia kháng chiến 9 năm tại quê nhà. Và cơ sở cách mạng đầu tiên tại khu Bảy Hiền được xây dựng từ những năm 1958-1959 do các ông Nguyễn Trữ (Tư Bốn) và Trần Tảo (quê Duy Trinh - Duy Xuyên, đã hy sinh) trực tiếp phụ trách. Chi bộ đảng đầu tiên ở đây do đồng chí Phạm Thị Đào (Hai Hà), Ủy viên Ban Tuyên huấn Khu ủy Sài Gòn - Gia Định trực tiếp làm bí thư. Đến năm 1960, tại đây đã có 3 chi bộ đảng do các đồng chí Chín Thơ, Phạm Văn Liệu, Nguyễn Thị Hoài, Lê Thị Toàn phụ trách. Các cơ sở quần chúng cũng sớm được xây dựng và hoạt động mạnh (ông Tạ Ngọc, cơ sở Trí Vận; các ông Lê Hoàng, Võ Quảng Ba, tổ chức sinh viên - học sinh yêu nước...). Bà con tại đây còn bí mật ủng hộ cho cách mạng tại quê nhà: Đảng bộ huyện Duy Xuyên cử đồng chí Trương Thắng vào vận động tài chánh và tổ chức buôn hàng vào ra Sài Gòn - Quảng Nam, làm kinh tài cho huyện ủy, được các cơ sở cách mạng và quần chúng tích cực giúp đỡ. Các phong trào đấu tranh chống Mỹ ngụy của đồng bào khu Bảy Hiền ngày càng sôi sục, làm cho kẻ thù mất ăn mất ngủ và chúng đã phải ra tay đàn áp mà cao điểm là các cuộc hành quân bố ráp quy mô lớn năm 1963, do Tổng nha Cảnh sát và các đơn vị nhảy dù, biệt động Sài Gòn phối hợp tổ chức. Tuy thế, phong trào cách mạng nơi đây vẫn không bị dập tắt và những ngày trước giải phóng (30-4-1975), công tác chuẩn bị tổng tấn công và nổi dậy bùng lên rất mạnh mẽ. Người dân Bảy Hiền bừng bừng khí thế cách mạng, ngang nhiên trước mũi súng của binh lính Sài Gòn lớp lớp vây quanh. Và sáng 30-4-1975 lịch sử, lá cờ Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam đã tung bay giữa thanh thiên bạch nhật tại khu Bảy Hiền; nhưng không may, người treo cờ bị trúng đạn của kẻ thù! Đó là anh thanh niên Nguyễn Tấn Thành- người con yêu dấu của quê hương Quảng Nam đã anh dũng hy sinh trên mảnh đất Bảy Hiền.

Sau ngày giải phóng, người dân Bảy Hiền thoát khỏi vòng cương tỏa của kẻ thù như cá thoát khỏi lưới trở về với sông biển. Mọi người hồ hởi hít thở không khí độc lập tự do. Bà con vừa ra sức làm ăn, khẩn trương xây dựng lại cuộc sống, vừa hướng về nơi chôn nhau cắt rốn, rủ nhau về thăm viếng, giúp đỡ đồng bào ở quê nhà. Phường dệt Bảy Hiền nhanh chóng phát triển thành khu trung tâm công nghiệp dệt của quận Tân Bình, với 20 hợp tác xã dệt và 11 nhà máy hồ sợi, mắc cửi trong một phường có 1.900 hộ với 22.000 dân sinh sống. Nghề dệt thủ công đã được bà con cải tiến và không ngừng phát triển về thiết bị và kỹ thuật để đứng vững trên thị trường trong thế cạnh tranh gay gắt của hàng ngoại nhập. Máy dệt thủ công bằng gỗ một thoi, khổ hẹp được thay thế bằng máy sắt tự chế hai thoi, dệt khổ rộng như kiểu máy Đại Hàn, Nhật Bản. Bà con còn chế tạo được máy xe tơ cũng theo mẫu mã nước ngoài để khỏi phải nhập tơ xe giá đắt; kỹ thuật dệt chữ danh hiệu trên biên hàng và thiết kế mặt hàng mới để chủ động thay đổi mẫu mã theo thị hiếu người tiêu dùng cũng được bà con mình nghiên cứu thực hiện thành công. Thế hệ các con cháu của cụ Cửu Diễn - cha đẻ ra khung dệt máy đầu tiên tại quê nhà năm xưa (1939), ngày nay tiếp tục phát huy sức sáng tạo và ý chí tự lực tự cường; tiêu biểu như Trương Phú Hòa, Nguyễn Bằng, Hồ Thơ... (cải tiến máy sấy hai thoi); Nguyễn Thành Châu (chế tạo máy xe tơ, thiết kế mặt hàng mới); Trương Phú Tứ (dệt chữ trên biên hàng) v.v. Và lớp trẻ sau ngày giải phóng đã làm nên cơ nghiệp trong ngành dệt khu Bảy Hiền, nối tiếp lớp đàn anh ngày trước, đặc biệt là khi đất nước bước vào thực hiện công cuộc đổi mới. Một số người tiêu biểu như anh Nguyễn Thành Sang- từ một chủ doanh nghiệp dệt tư nhân đã vươn lên thành Công ty cổ phần Phước Thịnh, hoạt động nhiều lĩnh vực: dệt nhuộm, may mặc, du lịch và mở rộng đầu tư về quê nhà với khu khách sạn du lịch biển tại Hội An (Palm Garden Resort - 4 sao) rất thành công. Anh Hồ Viết Lý, vốn mê nghề tơ tằm, đã quyết chí theo nghề, đầu tư thành lập công ty lớn, với thương hiệu Toàn Thịnh khá nổi tiếng ngày nay. Anh Nguyễn Mạnh cũng từ một cơ sở dệt ở khu Bảy Hiền nay trở thành Công ty Dệt may Kim Trâm có nhà máy lớn, làm ăn rất bề thế...

Điều đáng trân trọng là từ sau ngày giải phóng, người dân Bảy Hiền nói chung và những người làm nên cơ nghiệp trong cộng đồng đồng hương đất Quảng tại TP.Hồ Chí Minh luôn hướng về cội nguồn, gắn bó với đồng bào tại quê nhà và làm tốt nghĩa vụ công dân của thành phố mang tên Bác. Các phong trào hoạt động của Hội đồng hương như cứu trợ bão lụt, bảo trợ bệnh nhân nghèo, khuyến học, đền ơn đáp nghĩa... đều được bà con nhiệt tình ủng hộ đạt được kết quả rất đáng khích lệ.

 Thấm đượm truyền thống dân tộc, những người con đất Quảng tại Bảy Hiền của Sài Gòn trước đây cũng như TP. Hồ Chí Minh ngày nay, luôn kiên trung với mảnh đất thành đồng của Tổ quốc. Và những người con quê hương đất  Quảng ở nơi xa mãi mãi tự hào về cội nguồn quê hương xứ sở, một lòng hoài vọng xen lẫn ước mơ về một tương lai xán lạn của quê cha đất tổ.

LÊ NGỌC TỐNG

.
.
.
.
.