Tiễn biệt một đồng hương

;
Thứ Sáu, 11/01/2008, 22:26 [GMT+7]

Tôi cùng nhiều bà con đồng hương Quảng Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh vừa dự lễ tang chú Tư.

Có thể một số quý vị còn nhớ nhân vật “Ông Tư xích lô” và “Bà Tư mì Quảng” trong truyện ngắn “Làng” của tôi viết về trận lụt lịch sử năm Giáp Thìn 1964 tại quê nhà Quảng Nam. Trận lụt khủng khiếp ấy không những đã gây thiệt hại hết sức nặng nề về nhân mạng, tài sản của bà con ta ở Quảng Nam mà còn là nỗi buồn đau vô hạn với mọi đồng hương đất Quảng đang lưu trú tại Sài Gòn - Gia Định lúc bấy giờ. Trong số đồng hương vì nhiều lý do phải xa quê ấy có “Ông Tư xích lô” và “Bà Tư mì Quảng”. Bà con Nam Bộ thường lấy nghề nghiệp của người khác để gọi tên thân mật. Đây là loại phó danh không có trong giấy tờ hộ tịch. Chú thím Tư mang hai cái tên này là do nghề tạm thời của họ trong mấy năm đầu vào ở tại đất Sài Gòn cũ.

... Đầu năm 1960, trên đường đi học về, tôi thấy trước một quán bên đường có treo tấm bìa các tông nguệch ngoạc hai chữ “Mì Quảng”. Như nỗi mừng “tha hương ngộ cố tri”, tôi tấp vô ngay. Một chiếc xích lô đạp  đặt ở góc cổng vào. Một người đàn ông trạc tứ tuần, khuôn mặt chữ điền, lông mày rậm đang tranh luận rất hăng vấn đề gì đó với hai ông khách đang ăn mì. Tôi ngồi vào chiếc bàn bên cạnh. Mấy phút sau, một phụ nữ bưng lên cho tôi tô mì bốc khói thơm ngát. Hồi ấy tại Sài Gòn rất ít nơi bán mì Quảng.

Ông chủ quán (chú Tư) thôi cãi với hai ông khách, quay qua kéo ghế ngồi đối diện tôi. Ông nhìn tôi và hỏi ngang phè:

- Mì ăn được không? Ngon hay dở cứ góp ý thẳng để sửa chữa. Nhìn cách ăn mì của cậu, tui biết ngay là đồng hương với tui, đúng không?

Tôi nói:

- Mì Quảng của chú thím ngon, giá lại bình dân, dễ chịu cho những người  lao động và sinh viên nghèo như tôi.

Chú Tư “bẻ” ngay:

- Gọi “mì Quảng” là để người khác, nơi khác ngoài địa phương mình không lầm lẫn với mì Tàu, mì Nhựt, mì Xiêm (Thái Lan). Chớ cậu với tui đồng hương, nói “mì” là hiểu rồi còn thêm “Quảng” chi vậy?

Tôi cũng “bẻ” lại chú:

- Tấm bảng của chú treo ngoài quán cũng ghi như rứa mà?

- Ờ, đó là “nói” với khách không phải đồng hương. Còn với bà con ta ở đây, họ nuốt tô mì vô bụng có chữ “Quảng” cũng đỡ nhớ quê nhớ kiểng.

Từ lần sơ ngộ ấy, những hôm đi học về tôi thường ghé quán chú thím Tư ăn mì Quảng thay cơm trưa. Mọi người trong gia đình chú thím và tôi rất thân nhau. Nhiều khi tôi ghé quán, thấy chiếc xích lô đạp để gần cổng là biết chú Tư ở nhà, nếu thấy chú đang nói chuyện với khách, cặp lông mày rậm nhướn hết cỡ ấy là chú đang... cãi. Khách đến đây chẳng những không giận chú mà còn tỏ ra “ghiền” món mì của “Bà Tư mì Quảng” và cãi chơi với ổng!

Có lần tôi đến, chú Tư chưa về, thím nói với tôi:

- Ổng không bỏ sót một đám giỗ lớn, nhỏ nào mà hồi còn ở ngoài quê thuộc trách nhiệm của ổng và tui lo. Con cháu đứa nào nói “ăn giỗ” là bị ổng quát ngay, bảo phải nói là “đám kỵ”. Mỗi ngày, sáng sớm đọc báo thấy đăng cáo phó một đồng hương Quảng Nam, quen hay không ổng cũng đến chia buồn, phúng điếu, cứ đạp luôn xích lô mà đi. Gặp đám thân quen, ổng bắt tui ngồi xích lô để ổng chở đi dự với ổng.

Hồi xảy ra trận lụt Giáp Thìn ngày 9-11-1964 tại quê nhà, chú Tư biết tin dữ này khi ông đang rà rà xích lô kiếm khách tại Đa Kao. Chú hốt hoảng ra sức đạp nhanh xe về báo cho thím Tư hay. Được một quãng, chú cảm thấy xe chạy chậm quá vèn vứt xe bên đường, chạy bộ...

Nhìn lên di ảnh người quá cố ở tuổi thượng thọ, tôi thấy ấn tượng nhất là cặp lông mày của chú Tư đã bạc nhưng vẫn rậm như xưa. Cặp lông mày ấy nhướn lên y như những lúc chú đang “cãi cho rã lý, cãi cho nở phổi” với ai đó.

TƯỜNG LINH

.
.
.
.
.