Nếp nhà nơi xứ người

;
Thứ Bảy, 10/11/2012, 01:22 [GMT+7]

Nếp nhà ấy xưa mà quen lắm với mùi khói gốc tre của nồi bánh tét, của khay xôi ngọt dịp giỗ chạp…, bởi trong tâm thức của người  Quảng ở thị trấn Sa Rài (Đồng Tháp) vẫn ngỡ mình đang sống giữa quê nhà.
Làng xưa

Đồng Tháp Mười đang mùa nước nổi, tiếng vỏ lải chạy tạch tạch trên sông hệt như đang đi dọc dòng sông mẹ Thu Bồn. Cảm giác sắp tìm được đồng hương trong những chuyến đi xa luôn khiến con người ta không kìm được cảm xúc của mình. Đường về Sa Rài thênh thang, xanh mướt mắt với rặng tre, vườn chuối. Qua 2 cây cầu đặc trưng của vùng sông nước Tây Nam Bộ, Sa Rài hiện ra bình dị và thân quen đến độ tôi ngỡ mình đang đứng ở giữa thị trấn Tiên Kỳ (Tiên Phước) với những hàng quán nhỏ có chữ mỳ Quảng, bánh tráng đập, bùn giò, bún tái… Ghé quán Sáu Hùng (số 43, Lê Duẩn, ấp 1, Sa Rài), thực khách sẽ gặp ngay người đàn ông thấp đậm vừa bưng mỳ cho khách vừa cười nói rổn rảng. Không cần hỏi cũng biết đó là người Quảng bởi khẩu khí khó lẫn với bất kỳ vùng miền nào. Lúc còn nằm trong bụng mẹ, ông đã cùng những người con xứ Quảng “hành phương Nam” lập ấp, sinh kế. Trải đời người trên đất khách nhưng gia đình 3 thế hệ của ông vẫn nói giọng Quảng, ăn theo kiểu Quảng… Ông Hùng bùi ngùi: “Dù sinh ra ở đây nhưng trong tôi vẫn như đang sống ở Đại Hòa (Đại Lộc). Chưa một ngày sống ở quê, nhưng nhiều lúc vẫn tự hỏi làm răng mà mình không thể đổi giọng được, vẫn cắn ớt rộp rộp, ăn mỳ Quảng lùa rau ào ào. Rồi con cháu lớn lên vẫn mang cốt cách “rặt” Quảng”. 

alt
Nghề tráng bánh trở thành một nét văn hóa ẩm thực của người Quảng ở Sa Rài.

Đường 30.4, ấp 2 sáng bừng trong nắng bởi những mành bánh tráng phủ khắp nơi. Theo chân cô Nguyễn Thị Trinh, Trưởng ấp 2 (người gốc xã Quế Cường, huyện Quế Sơn) lội vào những con đường nhỏ trong xóm. Thân thương chi lạ khi mùi cá kho nghệ thoảng giữa trưa tháng 10, rưng rức lòng nghe tiếng người đàn bà Quảng nằm trên võng hát ru cháu: “Ngó lên Hòn Kẽm Đá Dừng/ Thương cha nhớ mẹ quá chừng bậu ơi!”. Giữa đất trời phương Nam, hồn cốt quê xứ không mất đi mà càng thêm đằm thắm với những ngôi nhà ba gian và ông kiềng ba chân nơi góc bếp. “Là bếp củi bằng ông kiềng 3 chân chứ không phải bếp của người miền Tây đâu con ạ! Cái bếp theo ông bà từ năm 1959 vào đây. Mỗi lúc vui buồn, cứ tìm cái ông kiềng 3 chân, ngồi đun củi vào, nhìn lửa nhìn khói để trút hết nỗi lòng mình” - cô Trinh kể. 

alt
Bà Phan Thị Ngành (90 tuổi) vẫn nấu bánh tét mỗi khi nhà có đám giỗ chạp.   Ảnh: M.KIỆT

Nghề cũ

Chiếm 80% dân số thị trấn Sa Rài với 8.000 nhân khẩu, người dân Quảng sinh sống chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp, buôn bán nhỏ và có một nghề đặc trưng là tráng bánh tráng. Chị Nguyễn Thị Thủy (người xã Duy Trung, Duy Xuyên) vào Sa Rài vào năm 1990 với hai bàn tay trắng. Hơn 20 năm qua, chị đã có cuộc sống khá giả nhờ nghề “lận lưng” nơi quê xứ. Bánh tráng gạo của chị nướng lên vàng ươm, thơm lừng mùi mè lúc đầu được bán cho bà con Quảng trong thị trấn, nay đã có tiếng ra khắp các tỉnh Tây Nam Bộ. Chị Thủy chia sẻ: “Tôi cứ theo cách thức mẹ dạy hồi nhỏ mà làm và phải làm bằng cái tâm mới mong gặt hái thành quả”. Mỗi ngày, chị Thủy tráng khoảng 30 ký gạo với các loại bánh tráng gạo mè, bánh đường, bánh có gia vị ớt tỏi cho hợp với khẩu vị của người miền Tây. Đi lòng vòng quanh các ấp 1, ấp 2, thấy phần lớn nhà nào cũng có lò tráng bánh, tạo nên thương hiệu bánh tráng Quảng Nam nơi đất khách. Ông Lê Văn Phi - Phó Chủ tịch UBND thị trấn Sa Rài cho biết chính bánh tráng của người Quảng Nam góp phần tạo nên nét đặc trưng của vùng đất này. Không chỉ là một nét văn hóa ẩm thực, nghề tráng bánh tráng đã tạo công ăn việc làm ổn định cho người dân ở đây. “Hiện tại, chúng tôi đã có những tổ hợp tác bánh tráng Sa Rài và trong tương lai sẽ thành lập làng nghề truyền thống bánh tráng cho bà con ở đây. Thực sự với hơn 80% dân số gốc Quảng Nam thì đây là một lý do chính đáng nhất, tạo nên dấu ấn Quảng tại Đồng Tháp” - ông Phi khẳng định.

Vòng qua rặng tre già cuối ấp 2, tôi ghé nhà ông Nguyễn Cúc, người gốc Quế Sơn. Ở tuổi 92, ông vẫn còn minh mẫn. Hồi trước, năm nào ông cũng về thăm quê 2 - 3 lần, bây giờ tuổi cao sức yếu đành bó gối ngồi nhớ quê. “Cái bụng mình cũng lạ thiệt, sống cả đời tại đây mà cứ nhất quyết khi chết muốn nằm tại nơi đã sinh ra mình!”. Ngày mai, nhà ông có đám giỗ. Nhìn cảnh ông cặm cụi hơ lá chuối gói bánh tét, bà Ngành vợ ông ngồi móm mém nhai trầu chèn khay xôi ngọt thơm lừng, chợt thấy ấm lòng chi lạ. Ông bảo, chất Quảng rõ nhất còn ở chỗ người ta vẫn gọi nhau bằng tên của đứa con đầu lòng chứ không kêu theo thứ tự như người miền Tây. Như ông tên Cúc, mà hơn 70 năm qua kể từ ngày sinh cô con gái tên Ngà người trong ấp đều gọi là ông bà Ngà…

Tôi rời Sa Rài trong buổi trưa lộng gió, câu hát ru “Ngó lên Hòn Kẽm Đá Dừng...” vẫn còn vương đâu đây...

MINH KIỆT

.
.
.
.
.