Nguyễn Văn Xuân - mãi vọng tiếng đồng

Theo Báo Đà Nẵng |

(QNO) - “Tôi đọc cái truyện ngắn viết về người nghệ sĩ đặc biệt của làng quê dân dã này mà lòng thầm nghĩ: thì chính tác giả của nó (…) cũng là một người chuyên nghe “tiếng đồng”, chuyên nghe được những âm thanh có âm vực từ chói gắt tới âm trầm của giọng nói người xứ Quảng” (Nhà thơ Thanh Thảo).

Nhà văn Sơn Nam và nhà văn Nguyễn Văn Xuân (từ trái qua) tại Hội thảo khoa học “Vai trò lịch sử của Dinh trấn Quảng Nam” tổ chức ở Tam Kỳ cuối tháng 8-2002.
Nhà văn Sơn Nam và nhà văn Nguyễn Văn Xuân (từ trái qua) tại Hội thảo khoa học “Vai trò lịch sử của Dinh trấn Quảng Nam” tổ chức ở Tam Kỳ cuối tháng 8-2002.

1. Nhà văn Nguyễn Văn Xuân sinh năm 1921 tại làng Thanh Chiêm, xã Điện Phương, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam; qua đời vào lúc 21 giờ 30 ngày 4 tháng 7 năm 2007 tại Đà Nẵng. Ông là một học giả, nhà văn, nhà nghiên cứu.

Lúc nhỏ, ông học ở quê, sau ra học ở Huế. 16 tuổi, ông rời ghế nhà trường, bắt đầu tự học. Ông tham gia làng văn từ rất sớm, 17 tuổi đã viết cho tờ Bạn Dân (Hà Nội). Truyện ngắn đầu tay Bóng tối và ánh sáng của ông được Tạp chí Thế Giới (Hà Nội) trao giải nhất. 19 tuổi, ông cộng tác với Văn Lang (Sài Gòn) - tạp chí nổi tiếng lúc bấy giờ do bác sĩ Hồ Tá Khanh làm Chủ bút với sự góp mặt của các cây bút lớn như Phan Văn Hùm, Đào Duy Anh, Hoàng Xuân Hãn.

Giai đoạn 1941 - 1945, ông viết cho Tiểu thuyết thứ Bảy (Hà Nội). Hai truyện ngắn Ngày giỗ cha (tháng 6-1943) và Ngày cuối năm trên đảo (1-1945) đưa tên tuổi ông vào danh sách thế hệ nhà văn trước 1945 đều xuất hiện trên tạp chí này.

Năm 1945 - 1954, ông tham gia phong trào cách mạng ở quê nhà, từng giữ chức Ủy viên kịch nghệ Hội Văn nghệ Quảng Nam, Ủy viên kịch nghệ Hội Văn nghệ Liên khu V.

Sau năm 1954, ông ở lại Quảng Nam, tham gia hoạt động đấu tranh đòi thống nhất đất nước, bị bắt giam ở lao Thừa Phủ (Huế) năm 1955. Thời gian này, ông cho ra đời tiểu thuyết Bão rừng sau gần 20 năm thai nghén, được xem là một trong những tiểu thuyết hiếm hoi đề cập đến việc khai thác thuộc địa qua các đồn điền Tây Nguyên của thực dân Pháp.

Ngoài nghề văn, nghiên cứu lịch sử, văn học, nghệ thuật tuồng, ông còn là một nhà giáo đã dạy học tại nhiều trường trung học, đại học. Thời gian giảng dạy tại Đại học Văn khoa Huế, ông đã phát hiện trong tủ sách một gia đình hoàng tộc Huế một bản Nôm của Phan Huy Ích dịch Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn. Phát hiện của ông đã góp thêm tư liệu giúp học giả Hoàng Xuân Hãn khẳng định rằng dịch giả đích thực của tác phẩm nổi tiếng này là Phan Huy Ích chứ không phải Đoàn Thị Điểm.

Phong trào Duy tân là công trình biên khảo về phong trào yêu nước chống Pháp đầu thế kỷ XX (Ảnh: Internet).
Phong trào Duy tân là công trình biên khảo về phong trào yêu nước chống Pháp đầu thế kỷ XX (Ảnh: Internet).

Tác phẩm tâm huyết nhất của ông là Phong trào Duy tân (1969), được xem là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách tổng quát và trọn vẹn về phong trào yêu nước chống Pháp đầu thế kỷ XX này. Phát xuất từ Quảng Nam, phong trào lan rộng ra khắp miền Trung rồi cả nước, gắn với tên tuổi của các chí sĩ như Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp... Một giai đoạn lịch sử đầy bi tráng đã được ông tái hiện trong tác phẩm biên khảo với kiến thức sâu sắc ông có được nhờ am hiểu Pháp văn và Hán Nôm.

2. Tác phẩm “Phong trào Duy Tân” là một công trình nghiên cứu, nhưng nhà văn Nguyên Ngọc đã nhận xét trong bài “Nguyễn Văn Xuân, nhà văn, nhà văn hóa, học giả lớn và độc đáo của Xứ Quảng” đăng trong cuốn Nguyễn Văn Xuân - Một người Quảng Nam (NXB Xưa và Nay, 2010) là “hấp dẫn như tiểu thuyết”. Theo tác giả của Đất nước đứng lên, nếu chỉ tính riêng hai tác phẩm “Phong trào Duy Tân” và “Khi những lưu dân trở lại” không thôi thì “ông (nhà văn Nguyễn Văn Xuân - NV) cũng đã xứng đáng có một vị trí thật đáng trân trọng trong những nhà văn hóa đặc sắc của Việt Nam ở thế kỷ qua…”.

Một số tác phẩm của Nguyễn Văn Xuân

- Ngày giỗ cha (truyện ngắn, 1943);

- Ngày cuối năm trên đảo (truyện ngắn, 1945);

- Kẻ xu thời (kịch, 1945 - 1954);

- Một chuyện không tiện nói ra (kịch, 1945 - 1954);

- Bão rừng (tiểu thuyết, 1955);

- Dịch cát (tập truyện, 1956 - 1966);

- Khi những lưu dân trở lại (biên khảo, 1967);

- Hương máu (tập truyện ký, 1969);

- Phong trào Duy tân (biên khảo, 1969);

- Chinh phụ ngâm diễn âm tân khúc (khảo lục, 1971, thất lạc bản thảo)

Có thể nói Nguyễn Văn Xuân bước vào văn đàn Việt Nam bằng hai chân: nhà văn và nhà nghiên cứu lịch sử. Sự nghiệp văn chương của ông mở ra và khép lại với hai tác phẩm đều đoạt các giải thưởng. Nếu tác phẩm đầu tay Bóng tối và ánh sáng (truyện ngắn, 1938) được Tạp chí Thế Giới (Hà Nội) trao giải Nhất thì tác phẩm cuối cùng Kỳ nữ họ Tống (tiểu thuyết lịch sử, 2002) đoạt Giải A của Ủy ban Toàn quốc các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam, Giải A của Hội Liên hiệp VHNT thành phố Đà Nẵng năm 2003.

Tuyển tập Nguyễn Văn Xuân đã được NXB Đà Nẵng ấn hành nhân kỷ niệm sinh nhật lần thứ 80 của nhà văn. (Ảnh: V.T.L)
Tuyển tập Nguyễn Văn Xuân đã được NXB Đà Nẵng ấn hành nhân kỷ niệm sinh nhật lần thứ 80 của nhà văn. (Ảnh: V.T.L)

Hai tập truyện ngắn xuất sắc, thể hiện dấu ấn tài năng và tâm huyết của nhà văn Nguyễn Văn Xuân là Dịch cát (1956-1966) và Hương máu (1969). Dịch cát tập hợp 8 truyện ngắn lấy cảm hứng từ đất và người xứ Quảng, trong đó, Tiếng đồng (1966) là tác phẩm ông tâm đắc nhất, được xếp vào 43 truyện ngắn hay nhất giai đoạn 1901 - 1945 (Truyện ngắn Việt Nam thế kỷ 20 - NXB Kim Đồng) và được chọn vào Tuyển văn miền Trung thế kỷ XX (NXB Đà Nẵng, 1997).

3. Năm 2010, NXB Xưa và Nay đã cho phát hành cuốn Nguyễn Văn Xuân - Một người Quảng Nam với nhiều bài viết của các tác giả đương thời. Nhà văn Nguyên Ngọc đã viết trong bài đã dẫn: “Đọc các tiểu thuyết, truyện ngắn của ông, thấy rõ sự uyên thâm của một học giả toàn diện, cực kỳ giàu vốn sống, vừa xông xáo mạnh mẽ trong suy tưởng, vừa tinh vi, tinh tế và đầy mẫn cảm...”.

Những năm cuối đời ông sinh sống tại Đà Nẵng, đã kinh tế khó khăn lại thêm người bạn đời bị tật bệnh tật. Nhà phê bình văn học Đặng Tiến kể rằng: “Bạn bè ngoài nước đề nghị tháng tháng trợ cấp cho anh viết hồi ký. Viết xong anh tùy nghi sử dụng bản thảo và thu lợi tức. Nhưng việc không thành vì anh không nhận”.

Ông đã “cực kỳ giàu vốn sống” rồi chăng? Hay là cái “chất Quảng” lưu chuyển trong huyết quản ông đã bảo ông từ chối những sự trợ giúp? Ai mà biết được.

Cũng từ cái “chất Quảng” đậm đặc đó của ông, trong sách đã dẫn, nhà sử học Dương Trung Quốc gọi ông là “Nhà Quảng học” qua một bài viết cùng tít đề: “Nguyễn Văn Xuân là người học rộng, lại chuyên viết về xứ Quảng, nên gọi ông là nhà Quảng học hiểu theo nghĩa nào của chữ cũng đều đúng cả”.

Từ điển Văn học (Bộ mới, NXB Thế Giới, 2004) cũng ghi nhận về ông nhưng điều tương tự như thế: “Hầu hết tác phẩm của Nguyễn Văn Xuân đều thể hiện một vốn kiến văn sâu rộng, một giọng văn giản dị hồn hậu, đậm đặc chất Quảng Nam, và đặc biệt, một tấm lòng yêu thương tha thiết đối với quê hương xứ Quảng”.

Nhà thơ Thanh Thảo, trong bài Vĩnh biệt nhà văn Nguyễn Văn Xuân, gọi ông là Người chuyên nghe “tiếng Quảng”. Nhà thơ viết: “Tôi có may mắn quen nhiều người Quảng Nam, trong đó có những nhà văn nhà thơ. Nhưng đúng là tôi chưa thấy ai “đậm đặc chất Quảng” như nhà văn Nguyễn Văn Xuân”.

Nhà thơ xứ núi Ấn sông Trà cho rằng ông “không hề là người cố chấp” và phân tích: “Ông biết lắng nghe, biết phân biệt “tiếng sắt tiếng đồng” như một nhân vật trong một truyện ngắn nổi tiếng của ông, người chuyên nghe “tiếng đồng” - những âm thanh vang dội nhất mà cũng mơ hồ nhất từ các loại chinh chiêng phèng la được chế tác từ một làng chuyên nghề đúc đồng ở Quảng Nam. Tôi đọc cái truyện ngắn viết về người nghệ sĩ đặc biệt của làng quê dân dã này mà lòng thầm nghĩ: thì chính tác giả của nó (…) cũng là một người chuyên nghe “tiếng đồng”, chuyên nghe được những âm thanh có âm vực từ chói gắt tới âm trầm của giọng nói người xứ Quảng”.

Tiếng đồng giờ vẫn còn sớm chiều vang vọng nơi làng quê Thanh Chiêm của ông nhưng nhà văn thì đã đi xa. Có dịp ngang qua miền đất phía Bắc sông Câu Lâu, không khỏi chạnh nhớ đến con người “đậm đặc chất Quảng” khi tiếng đồng vẫn vang vọng như xa, như gần…

Theo Báo Đà Nẵng