Trang lịch sử của một cuộc đời

;
Thứ Tư, 17/05/2006, 11:06 [GMT+7]

Khen xưa ai đã khéo trêu bày
Tạo cối này ra vốn để xay
Gốc tý càn khôn trồng  giữa  rốn.
Cán d?n tinh đẩu vận trong tay.
Nghiến răng tợ sấm  ì ầm  dậy.
Mở miệng đường mưa lác đác bay
Tứ trụ dưới nhờ chân đế vững
Cùng trên phụ bậc sẵn hai tay.

Cối xay và cách xay lúa kiểu trên đây đã lùi sâu trong quá khứ. Những người từng biết cối xay lúa và cách xay lúa ngày xưa dễ thấy Trần Cao Vân đã miêu tả thật tài tình, không chỉ miêu tả đúng như thật, người làm thơ còn  vận dụng cả chữ của "thánh hiền". Trong sách của Khổng Tử, có chữ "Gốc tý" là để nói ngôi trời, chữ "cán dần" là để chỉ người. Trần Cao Vân muốn nói : ý trời hợp với lòng người. Chữ "tứ trụ” ngoài nghĩa đen là cối xay bốn chân vững chắc, còn muốn ám chỉ tứ trụ  ở triều đình vững, thì ngai vàng của minh quân mới vững.  Điều đó chứng tỏ thiên tư và chí lớn của Trần Cao Vân từ khi còn nhỏ tuổi.
Cuộc hội ngộ với Võ Trứ tại hang núi Đá Bạc

Năm 1882, Hà Nội thất thủ, Hoàng Diệu tuẫn tiết theo thành, linh cữu đưa về an  táng tại làng Xuân Đài (Gò Nổi). Cùng nhiều sĩ tử, Trần Cao Vân dự lễ an  táng Hoàng Diệu.
Năm 1885, kinh thành Huế thất thủ,  Tôn Thất Thuyết phải phò vua Hàm Nghi ra Quảng Trị. Trước những biến cố đau lòng dồn dập, Trần Cao Vân ngưng việc học hành, từ biệt gia hương tìm đường cứu nước.

Sau 6 năm đóng vai đạo sĩ, thầy địa lý, thầy tướng số ở  chùa  Cổ  Am tại làng An Định (Đại Lộc) để gây dựng cơ sở yêu nước ; rồi  sau một năm mở trường dạy học  ở  Đại Giang cạnh làng An Định để tránh sự theo dõi, dò xét của mật thám, thực dân, năm 1892, Trần Cao Vân chuyển vào Bình Định. Ngoài nghề dạy học, Trần Cao Vân còn làm thầy địa lý để có điều kiện tiếp tục gây cơ sở.  Ở  Bình Định, tại hang núi Đá Bạc, Trần Cao Vân gặp Võ  Trứ đang tích cực gây dựng lực lượng chống Pháp. Năm 1895, Võ Trứ từ Bình Định vào Phú Yên nơi ông đã gây dựng được nhiều cơ sở. Trần Cao Vân được mời vào Phú Yên để giúp Võ Trứ về kế hoạch khởi nghĩa. Năm 1898, khởi nghĩa bùng nổ nhưng nhanh chóng bị đàn áp. Võ Trứ bị bắt và nhận hết trách nhiệm về mình, nhận án tử hình. Trần Cao Vân cũng bị bắt, bị tra tấn, bị giam tại nhà tù Phú Yên 11 tháng.

Vụ án “Trung Thiên dịch”

Dù tra tấn dã man, song không khai thác được gì,  địch phải trả tự do cho Trần Cao Vân.   Ra khỏi nhà ngục Phú Yên, ông trở về Bình Định dạy học. Năm 1900, hai tỉnh Bình Định - Phú Yên thông báo cho nhau, thì thầm bàn tán về một học thuyết mới - học thuyết Trung Thiên dịch. Vì tư liệu bị mất mát không còn nguyên bản, nên cho đến ngày nay, thuyết "Trung Thiên dịch" của Trần Cao Vân cũng chưa  ai   lý giải rõ rệt, đầy đủ. Chỉ biết là từ thời Phục Hy  ở  Trung Quốc có thuyết Tiên Thiên, đến thời Văn Vương có thuyết Hậu Thiên, thuyết Tiên Thiên nói về thiên văn, còn thuyết Hậu Thiên nói về quả đất. Nghiên cứu thuyết Tiên Thiên và Hậu Thiên của đời  trước, Trần Cao Vân nêu lên thuyết Trung Thiên Dịch, bàn về con người.

Bọn thực dân phong kiến lo sợ về thuyết Trung Thiên dịch, chúng đã ra lệnh bắt Trần Cao Vân về tội "yêu thơ", “yêu ngôn" xúi dân làm loạn. Lần này, kẻ thù giam Trần Cao Vân  ở  Bình Định, một năm sau chúng đưa ông về nhà lao Quảng Nam. Mãn tù, ông về lại với gia đình. Nhưng sau vụ chống thuế năm 1908, Trần Cao Vân lại bị chính quyền thực dân phong kiến đày đi Côn Đảo, 6 năm sau mới được trả tự do.

Cuộc gặp  gỡ  với vua Duy Tân  ở hồ Tịnh Tâm (Huế)

Sau khi  ở  Côn Đảo về, Trần Cao Vân đã cùng với Thái Phiên trở thành yếu nhân của  tổ chức Việt Nam Quang Phục Hội.

Ngày 6-4-1987, trong lễ cải táng hài cốt vua Duy Tân tại Huế, ông Georges Vĩnh San, con trai của vua Duy Tân đã nói với mọi người về sự kiện đã diễn ra ở  "Hậu hồ" (hồ Tịnh Tâm) : "Vua Duy Tân - người đã tiếp xúc với hai chí sĩ cách mạng của tổ chức Việt Nam Quang Phục Hội, những người không chịu cảnh nước Nam bị ngoại bang đô hộ. Hai vị ấy là Thái Phiên và Trần Cao Vân - những thủ  lĩnh chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp vào năm 1916. Thái Phiên và Trần Cao Vân cải trang làm người đi câu cá, được đưa đến gặp nhà vua  ở  hồ  sau cung đình (Hậu hồ)".

Cuộc hội kiến  diễn ra vào ngày 14-4-1916. Tuy mới gặp nhau lần đầu nhưng  nhà vua đã rất tâm đắc và hài lòng khi nghe Trần Cao Vân và Thái Phiên phát biểu. Hai nhà lãnh đạo của Việt Nam Quang Phục Hội trình bày với nhà vua kế hoạch chiếm ngay ba tỉnh Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi để làm căn cứ,  tiếp  đó  phát động khởi nghĩa trên toàn cõi Trung Kỳ ... Nhà vua tán thành với kế hoạch khởi nghĩa đã được dự định. Cuộc khởi nghĩa đã không thể bùng nổ như đã dự liệu vì sớm bị lộ. Cả vua Duy Tân, cả Thái Phiên và Trần Cao vân cùng với một số đồng chí của ông đều bị kẻ thù bắt (5-1916).

Mong cho Thánh thượng sinh toàn

Bị địch giam giữ  ở  ngục Thừa Thiên, Trần Cao Vân và Thái Phiên không ngại hy sinh mà chỉ lo cho tính mệnh của vua Duy Tân, đang bị kẻ thù giam giữ  ở  đồn Mang Cá. Để cứu vua khỏi chết, Trần Cao Vân đã biên thư trần tình với thượng thư Hồ Đắc Trung - giữ chức Thượng thư bộ Hộ kiêm Cơ mật đại thần, phụ trách việc thảo án. Thư viết trên giấy quyến (giấy vấn thuốc hút) có đoạn :

Trung là ai, nghĩa là ai, cân đai võng lọng là ai ?
Thà để cô thần tử biệt.
Trời còn đó, đất còn đó, xã tắc sơn hà còn đó,
Mong cho Thánh thượng sinh toàn

Khi bị tra hỏi, Trần Cao Vân và Thái Phiên nhận hết trách nhiệm về mình. Cuối cùng, vua  Duy  Tân chỉ bị tội lưu đày. Còn Trần Cao Vân, Thái Phiên và các đồng chí của ông là Tôn Thất Đề, Nguyễn Quang Siêu phải ra pháp trường tại An Hòa (Huế)”.
Trong nhà lao Huế, Trần Cao Vân và Thái Phiên vẫn giữ vững tinh thần. Trước khi lên đoạn đầu đài, Trần Cao Vân đã gửi lại niềm tin cho hậu thế bằng những vần thơ giàu nghĩa khí  :

Giữa trời đứng vững không thiêng
Nghìn năm nước Việt còn truyền sử xanh
... Người thù non nước còn đây
Trời xanh với tấm lòng này tương tri.

Ngày 16-4 năm Bính Thìn (tức 17-5-1916),  Cống Chém An Hòa tại Huế đã ghi nhận khí phách anh hùng vì nước của Thái Phiên và Trần Cao Vân, cùng với hai đồng chí  của ông là Tôn Thất Đề, Nguyễn Quang Siêu.

Phạm Hồng Việt

.
.
.
.
.