Tiếng hô hùng khí một thời

;
Thứ Sáu, 18/03/2011, 23:50 [GMT+7]

Tiếng hô của Trần Thuyết và những người nông dân xứ Quảng hơn 100 năm trước mang hùng khí một thời, vọng suốt đến mai sau.

Năm 1907, phong trào Duy tân ở các huyện Đại Lộc, Điện Bàn, Thăng Bình, Tam Kỳ, Tiên Phước... phát triển mạnh. Công sứ Quảng Nam đã báo cáo cho Khâm sứ Huế rằng: “Hội buôn Quảng Nam mà các thành viên tự xưng là những người cắt tóc theo cách họ nhận biết nhau. Hội tập hợp tất cả những phần tử đối lập với ảnh hưởng của Pháp, những viên quan trong đảng Cần Vương An Nam cũ, các nhà yêu nước xu hướng quốc gia kiểu Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu. Lúc này hội ấy hoạt động ráo riết. Các thành viên đi khắp các làng đề nghị dân cắt tóc, mặc Âu phục và khuyên họ tự giải quyết mọi mâu thuẫn mà không cần đến cửa quan hoặc các tòa công sứ”. Kết thúc báo cáo ông kết luận: “Theo tôi thật sự phải chấm dứt cuộc tuyên truyền phá rối trị an và phá hoại tất cả quyền lực của chúng ta”, (Báo cáo số 167 ngày 7.6.1907).

Nói về tiếng hô của Trần Thuyết ngày ấy, học giả Nguyễn Văn Xuân đã viết: “Cất tiếng đòi ăn gan đề đốc, một lời hô mà toàn dân bảy tổng dạ rân! Rồi tiếng dạ lừng lẫy vang động trời đất đủ sức đánh một búa tạ ngàn cân khiến đại tướng Nam triều hộc máu chết tươi. Lịch sử Trung Hoa mà chúng ta say mê thử hỏi có bao nhiêu sự tích ly kỳ mà hùng tráng tiêu biểu cho sức mạnh vô địch của tiếng nói nhân dân ghê gớm đến thế chưa?”.

Cũng trong năm 1907, “Sĩ dân có đơn kiện 7 Chánh, phó tổng (tức kiện tri phủ) kể nhiều khoản tình tệ” (Cuộc cự sưu Trung Kỳ - Huỳnh Thúc Kháng). “Rồi đến dịp tết năm Mậu Thân (1908) dưới hình thức một cuộc chơi xuân, các nhà nho duy tân đã họp nhau tại trường tân học Phú Lâm bàn chủ trương và những biện pháp cụ thể lãnh đạo nhân dân đi chống thuế: Giao cho học trò vận động nhân dân làm đơn xin giảm sưu thuế, đòi  đổi Đề đốc Trần Tuệ đi nơi khác, cử người đem đến phủ đường vào ngày 20 tháng giêng. Cổ động nhân dân kéo xuống phủ đường xin giảm sưu. Nếu không được sẽ đến tỉnh đường và ra tòa Khâm sứ Huế để kêu nài, nằm vạ tại đó cho đến khi nào chính quyền chịu giảm mới thôi. Mỗi xã cử một người, mỗi tổng cử 2 người biết chữ quốc ngữ và đủ tài đối đáp với quan lại.

Chỉ sau cuộc họp trên vài hôm, một phong trào làm đơn liên danh ký chỉ đòi đổi Trần Tuệ được dân chúng hưởng ứng. Các cuộc diễn thuyết tố cáo tham quan nhũng lại diễn ra ở hầu hết các làng thuộc hai tổng Phước Lợi và Vinh Quy. Ngày 17 tháng giêng (18.2), một đoàn gồm 20 người do các ông Dương Đình Luyến, Trần Thuyết, Nguyễn Trữ dẫn đầu đến phủ đường Tam Kỳ yêu cầu tri phủ Tạ Kinh Tú phải đáp ứng yêu sách của dân. Tri phủ đòi có đơn để ông báo cáo về tỉnh, tòa xem xét. Đúng ngày 20 tháng giêng lại kéo một đoàn 50 người đến mang theo 36 lá đơn. Tri phủ bảo mình không có quyền giải quyết lại quát hỏi ai thủ xướng. Lập tức đoàn người trả lời: “Chính  quan lớn thủ xướng chứ ai nữa”. Thấy bị mắc mưu, tri phủ phải nhận đơn... Cuộc vận động xin giảm sưu thuế ở Tam Kỳ đang diễn ra thì gặp lúc cuộc chống sưu thuế bùng phát ở Đại Lộc và Điện Bàn và đã hòa vào phong trào chung của cả tỉnh” (Mấy nhận xét về phong trào chống sưu thuế ở Quảng Nam năm 1908 - Ngô Văn Minh). Tham luận tại Hội thảo khoa học 100 năm phong trào chống sưu thuế Quảng Nam, 2008).

Trần Tuệ lúc đó là một võ quan cao cấp của triều đình, lãnh nhiệm vụ đắp đường chiến lược nối Tam Kỳ với Trà My để khai thác mỏ vàng Bồng Miêu. Y là người tàn ác, lại có quyền trong tay nên lộng hành hà hiếp dân lành quá mức. “Quyền thế quá to, y tự do muốn lộng hành thế nào cũng mặc. Cần nhà ở, y vào bắt chủ nhà dọn đồ đạc ra cho mình ở, chưa kịp là đánh đập. Vào nhà người ta ngủ trưa, nghe trẻ con khóc liền sai lính căng chủ nhà ra đánh rồi giải về phủ giam...” (Phong trào Duy tân - Nguyễn Văn Xuân, NXB Đà Nẵng năm 1995, trang 253)

Năm 1997, tỉnh Quảng Nam đã dành một khu đất rộng 1.000m2 dựng bia kỷ niệm Trần Thuyết tại nơi ông bị xử chém (dù chưa tìm được di hài). Chiều 18.3.2008, công nhân của Điện lực Quảng Nam khi thi công tuyến đường Nam Quảng Nam tại khối phố 1, phường An Sơn đã phát hiện một hài cốt bị mất đầu và một cánh tay nằm cách bia tưởng niệm của Trần Thuyết chỉ 0,25m. Ngành chức năng và gia tộc đã sớm xác định đây chính là di hài của ông. Năm 2008, chính quyền TP.Tam Kỳ đã phục chế lại phần đầu của ông, tổ chức trọng thể lễ cải táng rồi xây mộ và lập bia tưởng niệm ông.

Ngày 30.3.1908, hơn 3.000 dân các tổng xã Tam Kỳ đã biểu tình bao vây phủ đường. Đi đầu là dân cảm tử, sẵn sàng đương đầu với sự đàn áp của súng đạn và roi vọt, theo sau là đông đảo dân chúng. Nghe tin biểu tình, Trần Tuệ đã về trốn trong phủ đường nhưng đoàn biểu tình đã bao vây phủ suốt ngày đêm đòi giao Trần Tuệ. Tên Đại lý người Pháp cho xe và một toán lính khố xanh đến cứu Trần Tuệ. Khi xe ra khỏi phủ đường, theo sau là xe của Trần Tuệ có toán lính chạy theo bảo vệ thì Trần Thuyết hô lớn: “Dân ta xin quan Đại lý giao ông Đề để dân ăn gan!”. Cả đoàn biểu tình hơn 3.000 người đồng thanh “dạ” một tiếng vang trời. Trần Tuệ ngồi trong xe, dù có cả đám lính bảo vệ vẫn sợ mất hồn hộc máu ra mồm. Khi về cách tòa Đại lý 3 km thì tắt thở.

Sau vụ việc này, Dương Thưởng, Dương Thạc và Trần Thuyết bị quan lại Quảng Nam truy bắt. Dương Thạc và Trần Thuyết bị xử chém. Dương Thưởng bị kết án chung thân đày ra Lao Bảo.

Dương Thưởng và Dương Thạc là hai anh em ruột cùng đỗ tú tài một khoa, người xã Trường An, phủ Tam Kỳ (nay là xã Tam An, huyện Phú Ninh). Riêng Trần Thuyết còn gọi là Trùm Thuyết (vì ông làm trùm của làng Phước Lợi) hay Mộc Thuyết (vì làm nghề thợ mộc), có người gọi là Mục Thuyết vì ông là hào mục của làng. Theo tư liệu địa phương, ông  tên thật là Trần Văn Vinh, sinh ngày 13.6 năm Đinh Tỵ (1857) tại làng Phước Lợi, tổng Phước Lợi, phủ Tam Kỳ (nay là xã Tam Lãnh, huyện Phú Ninh). Trần Thuyết đã từng bỏ làm trùm làng cùng anh là Trần Hanh tham gia phong trào Nghĩa hội Quảng Nam năm 1886. Ông vóc cao to hơn người, giọng nói lớn ngân xa rất uy nghiêm.  Trong bản án luận tội Trần Thuyết của Nam triều có câu “Thanh thanh thực đề đốc can, nhất hô nhi thất tổng chi dân giai ứng” (tạm dịch: Chỉ một tiếng hô ăn gan đề đốc mà dân bảy tổng đều hưởng ứng). Ông bị xử chém ngày 18.4.1908 tại đầu cầu Tam Kỳ.

LÊ THÍ

.
.
.
.
.