Chiến sĩ nhảy tàu

;
Thứ Năm, 01/09/2011, 00:28 [GMT+7]

Với sự kiện “nhảy tàu” về xây dựng cơ sở cách mạng và lập lại Tỉnh ủy lâm thời chuẩn bị lực lượng cho ngày tổng khởi nghĩa, Trần Văn Quế được đồng đội đặt cho biệt danh thân mật: “Chiến sĩ nhảy tàu”.

alt
Ông Trần Văn Quế.

SINH ra tại Thọ Khương, tổng Đức Hòa, phủ Tam Kỳ (nay là thôn Thọ Khương, xã Tam Hiệp, huyện Núi Thành), Trần Văn Quế sớm tham gia làm tự vệ, giao liên cho cơ sở cách mạng từ năm 14, 15 tuổi. Tháng 12.1939, Trần Văn Quế được kết nạp vào Đảng, đến tháng 6.1940 ông bị bắt do tham gia phong trào “Chung tát biển Đông”. Địch giải về nhà lao phủ Tam Kỳ tra tấn dã man rồi đưa ra nhà lao Vĩnh Điện, Hội An. Tháng 1.1941, Trần Văn Quế cùng các đồng chí Nguyễn Tiến Chế, Nguyễn Hội, Nguyễn Ngọc Anh... tiếp tục bị đày đi Buôn Mê Thuột theo bản án “Án không khai báo, phải trừng trị nghiêm khắc”.

Với số tù 3020, Trần Văn Quế đã tham gia phong trào đấu tranh của anh em tù chính trị như chống đi làm ngày chủ nhật, chống cai ngục bớt khẩu phần ăn của anh em. Đặc biệt là phong trào đấu tranh phản đối tên quản ngục “khát máu” Mốt-sin đã giết hại các đồng chí Nguyễn Thành Hãn, Đỗ Ngọc Mai, Văn Diệp và Nguyễn Liễu - sau sự kiện vượt ngục Đắc Min không thành đầu năm 1943. Phong trào đã thu được thắng lợi, buộc địch phải thay công sứ, giám binh và quản lao.

Những ngày ngục tù với bao trận đòn dã man và chế độ lao tù khắc nghiệt vẫn không thể khuất phục ý chí cách mạng của những người cộng sản. Ngược lại, nhà tù trở thành trường học chính trị. Ở đây, Trần Văn Quế được học các môn Lịch sử, Địa lý, chủ nghĩa Mác-Lênin và phương pháp tuyên truyền, diễn thuyết, vận động quần chúng..., do các đồng chí Trần Hữu Dực, Nguyễn Chí Thanh, Trần Tống trong chi bộ nhà đày giảng dạy.

Đầu năm 1944, khi sắp đến kỳ mãn hạn tù, Trần Văn Quế cùng các đồng chí anh em ở Quảng Nam họp bàn kế hoạch và phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng người sau khi trở về quê hương. Nhưng rồi, lại nhận được thông tin do cơ sở bí mật của ta ở nhà đày cung cấp rằng lần này chúng sẽ không thả các đồng chí theo thời gian quy định mà sẽ đày đi an trí ở Phú Bài - Thừa Thiên Huế. Đây cũng là lúc phong trào cách mạng trong nước đang ở thời điểm quyết định. Chi bộ nhà đày yêu cầu các đồng chí tranh thủ lúc di chuyển bằng mọi giá phải trốn ra ngoài bắt liên lạc với tổ chức đảng địa phương tiếp tục hoạt động. Từ hôm đó Trần Văn Quế cùng với Nguyễn Tiến Chế, Lê Tự Nhiên, Trần Khoa... được theo học một lớp đặc biệt: học cách nhảy tàu, cách mở còng. Đồng chí Trần Khoa và Lê Tự Nhiên được phân công sau khi trốn thoát sẽ vào hoạt động ở cánh Ninh Thuận, Bình Thuận; đồng chí Trần Văn Quế và Nguyễn Tiến Chế phân công về Quảng Nam.

alt
Hội Tù yêu nước Quảng Nam thăm nhà đày Buôn Mê Thuột.                Ảnh: LÊ VŨ

Để nắm được tình hình cơ sở cách mạng còn lại ở quê nhà, đồng chí Trần Văn Quế liên lạc với đồng chí Võ Chí Công, Nguyễn Sắc Kim và Lê Bá, những người bị bắt hồi cuối năm 1943 đang bị giam tại một khám riêng tại nhà đày. Trong hồi ký của mình, đồng chí Trần Văn Quế viết: “Mỗi ngày 2 lần đưa cơm vào khám, chúng tôi tìm đủ mọi cớ để tiếp cận với các đồng chí Võ Chí Công, Nguyễn Sắc Kim, Lê Bá nhưng rất khó vì lính canh rất nghiêm ngặt. Lợi dụng lúc bọn chúng thiếu cảnh giác, tôi hỏi vào: Chúng tôi sắp được về, tình hình ở nhà ra sao, liên lạc với ai bây giờ? Anh Kim nói: Về cố gây dựng lại phong trào, liên lạc với Nguyễn Thị Lan - Bốn Phiên (bí danh là Hằng) ở Tịch Tây nhé. Nhắn ở nhà yên tâm. Anh Võ Chí Công dặn dò: Bọn mình đã ra được số báo Cờ Độc Lập số 10 rồi, các cậu về phải ra bằng được số 11. Phía bắc thì liên lạc với anh Bảy Phe (Nguyễn Tấn Ưng) làm thợ mộc ở Kim Bồng”.

Cuối tháng 2.1944, các đồng chí Trần Văn Quế, Nguyễn Giám, Lê Tự Nhiên, Trần Khoa bị bọn chúng giải về an trí Phú Bài. Đến Đức Phổ (Quảng Ngãi), thừa lúc chúng mở dây trói cho mọi người ăn cơm, đúng lúc này do tàu lên dốc nên chạy chậm lại, theo kế hoạch đã chuẩn bị đồng chí Trần Văn Quế hô to khẩu lệnh “Lênin”, mọi người cùng nhảy tàu trốn thoát an toàn.

Theo sự giới thiệu trước đó của đồng chí Võ Chí Công và Nguyễn Sắc Kim, đồng chí Trần Văn Quế, Nguyễn Tiến Chế về bắt nối, xây dựng được một số chi bộ ở Tam Kỳ. Sau đó ra phía bắc bắt liên lạc với đồng chí Nguyễn Tấn Ưng - Bí thư Thành ủy Hội An. Tháng 4.1944, một hội nghị được tổ chức tại chùa Kim Bồng (Hội An) đã quyết định thành lập lại Tỉnh ủy lâm thời Quảng Nam do Trần Văn Quế làm Bí thư. Tỉnh ủy đặt cơ quan tại Diêm Trường (nay là xã Tam Giang, huyện Núi Thành) và làng Kim Bồng. Hội nghị xác định nhiệm vụ cấp bách của Tỉnh ủy lúc này là nhanh chóng móc nối với các phủ, huyện để xây dựng lại hệ thống tổ chức đảng và các đoàn thể; tiếp tục ra tờ báo “Cờ Độc Lập” số 11 và in một số tài liệu mật để tuyên truyền.

Việc lập lại Tỉnh ủy lâm thời là một bước tiếp nối và chuẩn bị quan trọng, thúc đẩy phong trào cách mạng ở Quảng Nam phát triển, đáp ứng nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới. Đây cũng là sự kiện có ý nghĩa quyết định, là sự chuẩn bị kịp thời và cần thiết cho một cuộc vùng lên vĩ đại nhất trong lịch sử khi thời cơ cách mạng đến. Nhờ đó, mà cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Quảng Nam đã hội đủ thêm điều kiện để thành công rực rỡ.

LÊ NĂNG ĐÔNG

.
.
.
.
.