Biến nhà tù thành trường học

;
Thứ Ba, 21/06/2016, 09:34 [GMT+7]

Năm Mậu Thân (1908) nhân vụ dân biến (chống thuế ở miền Trung), Huỳnh Thúc Kháng bị thực dân Pháp ghép tội “theo đảng bội quốc, ngầm thông nước ngoài, đề xướng dân quyền, kết án đày Côn Lôn” sau Phan Châu Trinh vài tháng. Tại ngục tù Côn Đảo ông biên soạn “Thi tù tùng thoại” kể lại những năm tháng ở “trường học thiên nhiên”.    

Sau vụ kháng sưu cự thuế năm 1908, chính quyền thực dân Pháp thẳng tay đàn áp, bắt bớ những người tham gia biểu tình ở Quảng Nam nhưng vẫn không truy được ai là lãnh tụ phong trào. Vin vào cớ các nhà khoa bảng, thân sĩ hô hào Duy tân tự cường, chúng bắt giam họ song lại không có đủ chứng cứ xác thực để buộc tội. Dẫu vậy, bọn chúng vẫn thẳng tay đàn áp không theo một văn bản pháp luật nào. Người vào nhà lao đầu tiên ở Quảng Nam là Huỳnh Thúc Kháng. Thực dân Pháp đã huy động một bộ phận quân sự gồm có Đề đốc tỉnh, quan đồn phòng thủ miền tây Quảng Nam để dẫn độ ông. Chúng coi ông như một lãnh tụ đích thực, cho dù không có bằng chứng gì xác đáng, chỉ vin vào cớ ông là người xướng thuyết dân quyền trong dân gian để bắt bớ làm tội.

Dinh Chúa đảo năm 1912-1916 nơi cụ Huỳnh Thúc Kháng được chọn  làm chức biên ký ở phòng giấy   (Ảnh tư liệu sưu tầm nguồn Internet)
Dinh Chúa đảo năm 1912-1916 nơi cụ Huỳnh Thúc Kháng được chọn làm chức biên ký ở phòng giấy (Ảnh tư liệu sưu tầm nguồn Internet)

Đầu tháng 2.1908 ông bị giam tại nhà lao Hội An, mãi đến tháng 6.1908 thực dân Pháp và tay sai mới vá víu xong bản án, chiếu theo điều “mưu bạn vi hành” (mưu làm giặc mà chưa làm) để phải gông xiềng, lưu đày Côn Đảo, mà chẳng bao giờ tuyên án cho tội nhân và công chúng biết. Từ đó, Huỳnh Thúc Kháng trở thành một tù nhân để bắt đầu vào “trường học thiên nhiên” ở Côn Đảo. Khi mang gông xiềng bước xuống boong tàu, ông chắc mình khó có ngày về nhưng tâm hồn vẫn dạt dào niềm tin. Dù nơi chân trời góc biển ông vẫn lạc quan, tự nhủ rằng giang sơn, lòng người còn đó  thì nước tổ vẫn còn chờ tay mình vun xới, đắp bồi. Non sông có nghiêng ngửa thay hình đổi dạng, ông có bị gông xiềng, bị hành hạ thế nào miễn giữ lòng son sắt với Tổ quốc thì cũng có ngày đoàn tụ để nhìn thấy quê hương vươn mình đứng dậy. Tâm trạng ấy được Huỳnh Thúc Kháng thể hiện trong Bài ca lưu biệt:

Dầu đến lúc núi sập, biển lồi, trời nghiêng đất ngả,

Tấm lòng vàng tạc đá vẫn chưa mòn

Trăng kia khuyết đó lại tròn.

 Côn Lôn đã trở thành nơi thử thách, tôi luyện Huỳnh Thúc Kháng. Ngày 28.8.1908 ông đặt chân đến Côn Lôn, ghi lại trong hồi ức: “Bọn chúng tôi đến đảo, vào phòng giấy ngục trưởng (do lính tây cùng mã tà áp dẫn) nhận áo quần cùng chiếu, lại có thẻ bài bằng gỗ hình vuông giống như thẻ bài ngà, chỉ khác là trên ấy ghi số hiệu, khi căn cứ gọi số hiệu thay tên (số bài của tôi hiệu 7.455) dưới khắc hai chữ D.C (chữ viết tắt bằng chữ Pháp “Dangereux Condamné” có nghĩa là tù nguy hiểm, cho ở riêng một phòng, được đôi ngày rồi chia ra ở các phòng cùng với các tù khác làm tạp dịch”.

Một góc sở Đồi mồi tại Côn Đảo nơi cụ Huỳnh Thúc Kháng từng làm việc vào năm 1920.
Một góc sở Đồi mồi tại Côn Đảo nơi cụ Huỳnh Thúc Kháng từng làm việc vào năm 1920.

Ngay ngày hôm đó, bỗng từ ngoài cửa sổ lưới sắt ném vào một viên đá nhỏ, có một mảnh giấy, Huỳnh Thúc Kháng lượm xem thấy một bài thi với lời an ủi:

“Xe nam đi lại vắng tin hồng

Đường thế quanh co giận chửa thông

Người có đồng lòng thêm khẳng khái,

Võ không lưa đất khuẩn anh hùng

Mạnh tân giắt giáp chờ mưa Bắc

Xích Bích giương buồm thiếu gió Đông

Ắt hẳn lòng trời phò Tổ quốc

Hỏa tinh thổi đỏ giữa tầng không”.

Dưới ký tên là Bắc Hà Thượng Cát Trần Trọng Cung (sau mấy tuần giáp mặt mới biết người cựu đảng Cần vương, can án Hà thành đầu độc). Đêm ấy lại được thủ thư của Tây Hồ Phan Châu Trinh: “Anh em vì quốc dân hy sinh tất cả ra đây, nơi đảo khơi, tưởng có vui thú tuyệt, chứ chẳng chút nào buồn chán, cảnh đắng cay này, làm trai ở thế kỷ 20, không thể không nếm tới”.

Bưu điện Côn Đảo đầu thế kỷ XX nơi cụ Huỳnh Thúc Kháng làm xâu tại đây vào năm 1918.  (Ảnh tư liệu sưu tầm nguồn Internet)
Bưu điện Côn Đảo đầu thế kỷ XX nơi cụ Huỳnh Thúc Kháng làm xâu tại đây vào năm 1918. (Ảnh tư liệu sưu tầm nguồn Internet)

Lúc mới tới Côn Đảo, Huỳnh Thúc Kháng chưa biết chữ Pháp. Ông mượn được quyển tự vị tiếng Pháp “Petit Larousse” của tên cai ngục người Pháp để tự học, chỉ sau mấy tuần, ông mang trả sách và nhớ toàn bộ quyển tự vị không thiếu một từ. Năm 1909, Huỳnh Thúc Kháng ở phòng làm tạp dịch với các tù nhân khác, tham gia các công việc: đập đá, đánh tranh, quét dọn tàu, trồng rau, đan chiếu… Năm 1912, ông được chọn vào làm biên ký ở phòng giấy Ngục trưởng. Ông cho biết, trong bọn tù kẻ nào được quan Tây cùng lính giữ ngục cho làm bồi nấu ăn, được ăn uống no đủ, được cấp phát áo quần cùng tiền công cũng như có một ít quyền lợi đặc biệt. Chức thông ký ở phòng giấy là chức được đối đãi tối ưu, chẳng khác nào hàng quan trường ở trong nội địa, bọn tù lấy làm vinh lắm. Bọn chúng tôi đến đảo mới bắt đầu học chữ Tây, bọn tù đều hỉnh mũi cười, đến ngày cần có người làm chức thông ký (vì không có người thông ký cùng người biết chữ Tây nên chọn đến bọn tôi). Bọn tù khác đều lấy làm ngạc nhiên. Năm 1913, ông được giảm án xuống còn 13 năm, lúc đầu bị án phát phối vô kỳ hạn. Ở phòng giấy mực khoảng 3 năm, chuyên biên chép các sổ công dịch thay đổi ra vào, kỳ hạn trừng phạt cùng tiền công cấp phát, theo từng ngày chép vào vào sổ không sai chày chút nào. “Đối với công văn thư trát và sổ sách kế toán, tôi biết được đại khái đôi chút, đều nhờ lúc đó gọi là “trường học thiên nhiên” thật đúng” - Huỳnh Thúc Kháng viết.

Huỳnh Thúc Kháng cho biết, năm 1916, ở Côn Đảo có quan Tham biện Ôcônen mới đến, thi hành chính sách mở rộng cửa. Ông cùng bạn quốc sự đồng nhân đều được ra ngoài tự dinh sinh, mở một tiệm buôn, tất cả tiền măng da (mandat) nộp tại công khố chung được 70 đồng, gửi về Sài Gòn mua hàng (rượu nho, rượu mạnh, tạp vật) bán cho lính Tây, gác dan, mã tà (những bàn ghế trong tiệm cùng hàng hóa gửi bưu điện đều nhờ ông Ôcônen chỉ thị cùng lo liệu một cách gián tiếp). Lúc bấy giờ, nhân có xây bức tường thành ngục mới, đem ở Sài Gòn ra hơn trăm thợ nề, bọn ấy tiền công nhiều tiêu xài thành thói quen. Mỗi ngày làm xong việc, thường đến tiệm buôn này ăn uống thích khẩu, lại trong số trên năm chục lính Tây ở đảo, mới độ nửa năm mà vốn trong tiệm đã lên tới trên dưới 300 - 400 đồng. Bọn chúng tôi ban đầu không tính đến như thế, bèn mua tạp hóa cần dùng cho bọn tù, lại chỉnh đốn nội dung không ngoài một năm nghiễm nhiên thành một tiệm buôn lớn nhất đảo, hơn cả hai tiệm buôn của người Tàu lâu nay, tiền vốn lên tới hàng ngàn đồng. Năm 1917, ông Ôcônen bị triệt về Sài Gòn, có tham biện mới đến, chính sách khai phóng bị tiêu ma, quay trở lại quy chế câu thúc ngày trước. Quốc sự phạm trừ ngoài án biệt xứ còn được ở ngoài còn ra đều chia rải rác đi các nơi.  

Huỳnh Thúc Kháng cùng một số người qua sở cày, được ở trong cảnh trại ngoài ruộng, dưới quyền của cai sở đội trưởng, giữ trâu, cày ruộng, ngày làm xâu hai lần, so với ngày làm xâu bất thường ở trong nhà giam có chút dư rỗi. Năm 1918, Huỳnh Thúc Kháng làm xâu đài vô tuyến điện, học nghề làm thợ nề. Kể 10 năm ở đảo, xâu này cực nhọc, vất vả. Ngày thường là việc làm không nổi, thế mà nay làm xong, có thể gọi “thêm điều ích vào chỗ không biết”. Năm 1919, Huỳnh Thúc Kháng lại điều về làm công dịch tại Phòng giấy quan Tham biện. Năm 1920, làm ở sở đồ mây, rồi sở làm đồi mồi. Năm 1921, Huỳnh Thúc Kháng mãn hạn tù và được trả về đất liền, mở đầu một bước ngoặc mới trong cuộc đời hoạt động chính trị xã hội của nhà chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng.

NGUYỄN VĂN TÂM

.
.
.
.
.