Vị cao tăng người Quảng

;
Thứ Bảy, 16/07/2016, 06:01 [GMT+7]

Quảng Nam không chỉ là nơi sinh ra nhiều nhà khoa bảng, anh hùng; nhiều nhà cải cách, cách mạng mà cả các nhà triết học, các vị cao tăng. Thiền sư Hương Hải là một điển hình.

Tháp và linh vị của Thiền sư Hương Hải ở chùa Nguyệt Đường (thị trấn Phố Hiến, Hưng Yên).
Tháp và linh vị của Thiền sư Hương Hải ở chùa Nguyệt Đường (thị trấn Phố Hiến, Hưng Yên).

Một vị cao tăng

Thiền sư Hương Hải là cao tăng đời Lê Hi Tông, không rõ tên thật, có quê gốc ở làng Áng Độ, huyện Chân Phúc (nay là huyện Nghi Lộc, tỉnh Hà Tĩnh). Tổ bốn đời của ông theo Đoan quận công Nguyễn Hoàng vào Nam năm 1558, sau đó được cử vào lập nghiệp ở Quảng Nam. Hương Hải sinh năm 1628 ở làng Bình Yên thượng, huyện Lễ Dương (nay là xã Bình Dương, huyện Thăng Bình). Là người thông minh hiếu học nên khi mới 18 tuổi (1646), ông đã thi đỗ Hương tiến (cử nhân), được bổ làm văn chức trong phủ chúa Nguyễn Phúc Lan (1635-1648). Sau đó được bổ làm Tri phủ Triệu Phong, Quảng Trị.

Năm 25 tuổi (1652), ông gặp một vị du tăng người Trung Hoa và bắt đầu say mê nghiên cứu Phật học. Năm 1655, ông từ quan xuất gia với nhà sư Viên Cảnh và được ban pháp danh là Huyền Cơ Thiện Giác, pháp tự Minh Châu Hương Hải.

Sau đó, ông dong thuyền ra Cù Lao Chàm, lên núi Tiêm Bút La để tu thiền. Được 8 tháng thì gặp trở ngại nên về lại đất liền định lập am ở làng Bình Yên thượng tiếp tục tu hành. Sau đó, người dân ở Cù Lao Chàm cho rước ông trở ra lại đảo và ông hành đạo tại đây suốt 8 năm. Trong thời gian này, ông trở lại đất liền hai lần. Lần thứ nhất do trấn thủ Quảng Nam là Thuần quận công thỉnh về để chữa bệnh cho phu nhân. Sau khi lành bệnh, phu nhân và cả gia đình đã lạy ông để xin quy y đầu Phật. Lần thứ hai vào năm 1665, Tổng Thái giám Hoa Lễ hầu đã cho người đưa thuyền ra đảo thỉnh ông về lập đàn sám hối và chữa cho ông khỏi bệnh lao.

Nghe đồn về tài năng và đạo hạnh của ông, chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần (1648-1687) cho đón ông về kinh, xây Thiền Tĩnh Viện trên núi Qui Kinh (nay thuộc huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên-Huế) để ông giảng đạo và cầu an cho hoàng tộc, đất nước. Quốc Thái phu nhân (mẹ Nguyễn Phúc Tần) và ba công tử cùng đến quy y học đạo với ông. Các quan lại trong triều, dân chúng và cả quân lính cũng đến lạy ngài xin quy y. Theo Nguyễn Lang thì con số lên đến 1.300 người và Thiền Tĩnh Viện trở thành một trung tâm Phật giáo nổi tiếng của xứ Đàng Trong.

Trong số những phật tử lui tới chùa có quan thị nội giám Gia quận công vốn là người từ Đàng Ngoài trốn chúa Trịnh vào Nam được chúa Nguyễn dùng, rất tâm đắc với ông, thường xuyên đến chùa đàm đạo về đạo pháp. Vì việc này Gia quận công và ông bị nhà chúa nghi ngờ có âm mưu tạo phản để trốn ra Bắc. Chúa Nguyễn Phúc Tần đem ngài tra khảo nhưng không tìm ra bằng chứng nên trục xuất khỏi kinh đô đưa về lại Quảng Nam.

Vì sự bạc đãi của chúa Nguyễn, mặt khác lúc này ở Đàng Trong tình hình rất lộn xộn do sự khuynh loát của Tống Thị nên vào năm 1862, Thiền sư Hương Hải cùng 50 đệ tử đóng thuyền vượt biển ra Bắc. Khi đến Nghệ An, ông được viên Trấn thủ đón tiếp rất nồng hậu. Một tháng sau, chúa Trịnh Căn cho đón ông về Thăng Long, ban thưởng rất hậu. Sau 8 tháng ở trấn Sơn Tây, chúa sai lập am Chuẩn Đề ở Sơn Nam cho ngài tu hành. Suốt 17 năm tại đây ông chú tâm vào việc tu hành và sáng tác.  

Năm 1700, Thiền sư rời Sơn Nam về sáng lập và trụ trì ở chùa Nguyệt Đường ở Kim Động, tỉnh Hưng Yên với mong muốn phục hồi Thiền phái Trúc Lâm đã có từ thời nhà Trần. Sáng ngày 13 tháng 5 năm Ất Mùi (1715), sau khi tắm, ông khoác y, đội mũ, đeo tràng hạt, ngồi kiết già và viên tịch, hưởng thọ 88 tuổi. Đệ tử xây bảo tháp tại chùa để thờ ông. Ngôi bảo tháp này hiện vẫn còn ở thị trấn Phố Hiến, tỉnh Hưng Yên.

Tư tưởng triết học Phật giáo

Nói về Hương Hải, Thiền sư Lê Mạnh Thát đã viết: “Thiền sư Hương Hải là một tác gia lớn không những của văn học và triết học Phật giáo Việt Nam, mà còn của văn học và lịch sử tư tưởng Việt Nam nói chung”. Ông là người am hiểu nhiều lĩnh vực: thơ, văn, quân sự, địa lý, triết học, y học, đã để lại nhiều tác phẩm nghiên cứu quan trọng.

Về địa lý có Thuận Quảng nhị xứ sơn thủy lộ trình bản đồ, vẽ sông núi đường đi của hai xứ Thuận, Quảng. Đây là tác phẩm quan trọng, viết năm 1682.

Các tác phẩm khác của Hương Hải tập trung chủ yếu vào việc dịch giải các kinh điển Phật giáo ra tiếng Việt.

Thiền sư Lê Mạnh Thát cho biết Hương Hải đã chú giải 20 cuốn kinh và 6 bộ sách khác. Nay phần lớn đã thất lạc. Thiền sư Lê Mạnh Thát  sau 25 năm sưu tầm chỉ tìm được 5 cuốn và đã tập hợp lại thành sách để xuất bản với tên: Minh Châu Hương Hải toàn tập  (Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2000).

Về triết học Phật giáo, trong sách Việt Nam Phật giáo sử luận, Nguyễn Lang (Thiền sư Thích Nhất Hạnh) cho rằng tư tưởng thiền của Hương Hải thiền sư có thể tóm tắt trong các nội dung sau: Thứ nhất là người tinh thông cả Nho học và Phật học, ông chủ trương “Nho Phật nhất trí”. Nho giáo như là một nền học bổ túc cho Phật giáo về phương diện trị thế. Thứ hai là giải quyết mối quan hệ giữa Phật và chúng sanh, giữa mê và ngộ, giữa tâm và cảnh, giữa thiện và ác.

Về mối quan hệ giữa Phật và chúng sanh ông cho rằng: Phật và chúng sanh cùng chung một thể tính, giác ngộ thì chứng nhập được vào thể tính ấy. Níu Phật mà bỏ chúng sanh thì không bao giờ có thể đạt được đạo. Về mối quan hệ giữa mê và ngộ ông cho rằng mê và ngộ có chung thể tính, dựa vào nhau để tồn tại; chân và vọng vì đối đãi với nhau mà có. Nếu tìm chân mà bỏ vọng thì không khác gì người sợ bóng theo hình mà cứ chạy ngoài nắng. Nếu biết rõ vọng là chân thì cũng như đi vào nơi rợp, bóng tự khắc sẽ biến mất. Về mối quan hệ giữa thiện và ác ông cho rằng thiện và ác đều không có thực, nó từ tâm ta mà ra thôi.

Từ trên cơ sở nhận thức các mối quan hệ trên, Hương Hải chủ trương: Không trốn chạy sự vật. Theo ông: “Đối tượng của giác quan như âm thanh, hình sắc sở dĩ áp đảo được tâm ta vì tâm ta chưa quan sát và thấu đáo được bản chất của tâm  cũng như những đối tượng ấy. Bản chất của tâm cũng như của sự vật là chân tâm-nghĩa là thực tại không sinh diệt, mà văn học Bát Nhã gọi là không. Nếu tâm đã về chân tâm thì cảnh cũng trở về chân cảnh: Không cần có sự chạy trốn mà giải thoát trở thành hiện thực”.
Giới luật cao nhất là sự vô tâm. Giữ được trạng thái vô tâm thì phiền não sẽ không có chỗ để nương tựa, đây là bí quyết của sự giác ngộ. Thành Phật ngay trong giờ phút này. Ông cho rằng: Mở mắt mà nhìn thực tại với cái tâm “vô tâm” (cái không)  thì giây phút nào cũng là giây phút giác ngộ, nơi nào cũng là Phật.

LÊ THÍ

.
.
.
.
.