Bức hoành phi và nhân cách một vị quan

;
Chủ Nhật, 28/08/2016, 10:12 [GMT+7]

Bức hoành phi chỉ có 3 chữ “Đức vi quý” được con cháu tộc Phan ở làng Phước Sơn (nay là xã Quế Châu, huyện Quế Sơn) xem là vật gia bảo của dòng họ bởi nó gắn liền với cuộc đời thanh bạch và tài xử án của quan Án sát sứ Phan Văn Thuật.

Nhà thờ tộc Phan ở xã Quế Châu (Quế Sơn). Ảnh: LÊ THÍ
Nhà thờ tộc Phan ở xã Quế Châu (Quế Sơn). Ảnh: LÊ THÍ

Vị  quan “thanh liêm và mẫn cán”

Tộc Phan ở làng Phước Sơn là một trong những gia tộc khoa bảng nổi tiếng của Quảng Nam. Gia tộc này đóng góp cho đất học Quảng Nam 1 tiến sĩ, 2 cử nhân và 2 tú tài. Tuy không bằng các tộc họ khác như tộc Phan (Bảo An), tộc Hoàng (Xuân Đài), tộc Phạm (Mã Châu)... nhưng tộc họ này được nhiều người ca ngợi vì Quế Sơn là huyện mới thành lập năm 1836 do việc chia tách từ hai huyện Lễ Dương và Duy Xuyên, lại là huyện mà điều kiện kinh tế đời sống còn nhiều khó khăn. Mặt khác, gia tộc này đã đóng góp một con “chim phụng” của Ngũ phụng tề phi và khai khoa cho dòng tộc lại là một người thanh liêm, rất nổi tiếng về những “kỳ án”. Đó là quan Án sát  Phan Văn Thuật.

Phan Văn Thuật tự là Thức Phu sinh năm Mậu Thân - 1808, trong một gia đình nông dân nghèo, có gốc từ Nghệ An, di cư vào làng Phước Sơn, dưới thời Lê Thánh Tông bình Chiêm năm 1471. Thuở nhỏ Phan Văn Thuật nổi tiếng thông minh, nhanh nhẹn, có tài ứng đối mau lẹ. Năm Canh Tý - 1840, đời vua Minh Mạng, ông đỗ cử nhân tại trường thi Thừa Thiên. Năm 1848,  được bổ làm hành tẩu ở viện Hàn lâm. Sau đổi ra Quảng Trị làm tri huyện Minh Linh, rồi thăng tri phủ Phước Long (Gia Định). Năm 1856 chuyển về kinh giữ chức viên ngoại lang. Năm 1860, vua Tự Đức cử ông làm Khâm sai, ra Hà Nội để phúc thẩm một số vụ án hình sự. Nhờ tài xử án, ông đã phát hiện và giải quyết nhiều vụ án oan nên được triều đình khen ngợi. Với thành tích đó, Phan Văn Thuật được bổ chức Quản đạo tỉnh Quảng Trị. Năm sau, thăng Án sát (chức quan lo việc hình sự ở một tỉnh) rồi Bố chánh (quan đầu tỉnh) Quảng Bình.

Năm 1865, Phan Văn Thuật được chuyển về kinh giữ chức Biện lý bộ Hình. Vừa nhậm chức, ở Quảng Nam bị nạn đói, ông được nhà vua sai đi chẩn tế. Ông tấu xin vua Tự Đức tức tốc cho xuất ngay 30.000 phương gạo trong  kho ở kinh để cứu dân. Ông cũng đề nghị triều đình bán gạo dưới giá thị trường cho dân nghèo, nhờ thế dân Quảng Nam thoát được cảnh chết đói. Năm 1868, ở Tuyên Quang còn tồn đọng nhiều vụ án oan, nhân dân rất ta thán. Vua Tự Đức nhớ lại thành tích của Phan Văn Thuật năm xưa nên cử ngay ông đến đấy làm Bố chánh sứ. Được một thời gian ngắn, ông bị ốm phải xin về quê dưỡng bệnh. Ngày 13.11.1869, ông qua đời ở quê nhà, hưởng thọ 61 tuổi. Mộ ông hiện nay ở xã Quế Châu, huyện Quế Sơn.

Sách Đại Nam liệt truyện của Quốc sử quán triều Nguyễn đã dành cho ông nhiều lời khen ngợi: “Phan Văn Thuật làm quan siêng năng, tài cán, đến đâu cũng có tiếng hay về hành chánh và đạo đức”.

Các cháu ông sau này đều đỗ đạt và thành danh. Cháu đích tôn Phan Xáng đỗ tú tài. Phan Xáng có 3 người em, một đỗ tiến sĩ (Phan Quang, cử nhân khoa Giáp Ngọ - 1894; tiến sĩ khoa Mậu Tuất - 1898, khoa thi được mệnh danh là Ngũ phụng tề phi của Quảng Nam), một người đỗ cử nhân (Phan Vĩnh, khoa Bính Ngọ - 1906) và một đỗ tú tài (Phan Ấm). Sang thời tân học, các chắt, chít của ông cũng có nhiều người nổi tiếng: Con Phan Quang có  Phan Khoang là sử gia, nhà văn Phan Du, Phan Mật, Phan Hựu cũng đều là những nhà báo, nhà văn tài danh. Con của Phan Vĩnh có Thiếu tướng Phan Hàm, Đại tá Phan Hạo. Các nhà văn Vũ Hạnh, Bộ trưởng Võ Đông Giang… đều là những người chít (cháu đàng ngoại Phan Quang)  của Phan Văn Thuật.

Bức hoành phi “Đức vi quý”

Đến nhà thờ tộc Phan ở xã Quế Châu (Quế Sơn) nhiều người ngạc nhiên về hai bức hoành phi rất giống nhau với ba đại tự “Đức vi quý” bằng chữ Hán. Một bức đã mục nát và một bức vẫn còn mới nguyên. Ông Phan Phước Hiệp cho biết, bức hoành phi là vật “gia bảo” của tộc Phan và có liên quan đến một vụ án oan. Bức thứ nhất đã trải qua gần 150 năm nên bị mục nát, gia tộc phải phục chế để thờ. Ông Hiệp kể: “Khi ông tổ Phan Văn Thuật đến nhận chức Án sát Quảng Bình đã tiếp nhận một vụ trọng án do người tiền nhiệm để lại. Nạn nhân là con trai của một nhà buôn giàu có. Người này bị kết án tử hình chờ ngày xử giảo. Nhận thấy có dấu hiệu oan sai, ông đã cho điều tra lại toàn bộ vụ án. Với cái tâm trong sáng và tài xử án của một khâm sai triều đình, vị quan Án sát người Quảng giàu lòng nhân hậu đã làm cho công lý được sáng tỏ, giải oan và trả lại cuộc sống cho người thanh niên đáng thương, là nạn nhân của bọn tham quan ô lại. Gia đình nạn nhân hết sức cảm kích đem nhiều vàng bạc đến tạ ơn nhưng Phan Văn Thuật một mực từ chối. Ông bảo: “Tôi làm quan ăn lộc triều đình, với nhiệm vụ phải xét luận công tội phân minh, đem lại công bằng cho dân”.   

Bức hoành phi “Đức vi quý”
Bức hoành phi “Đức vi quý”

Không tặng được vàng bạc, gia đình người chịu ơn năn nỉ xin tặng ông một vật mọn là chiếc võng điều để thay cho chiếc võng ông đang dùng đã sờn rách. Nể tình, ông nhận. Nhưng một thời gian lính khiêng phát hiện chiếc võng mới quá nặng. Đâm nghi, ông bèn kiểm tra lại và phát hiện trong ống tre của đòn khiêng có hàng trăm cây vàng. Ông gọi người nhà nạn nhân đến và trước mặt quân lính bắt phải mang tất cả về. Gia đình nạn nhân phải sụp lạy xin tha tội.

Tặng vàng không được, tặng võng không xong, gia đình người chịu ơn ông vẫn đau đáu chuyện đền ơn. Khi biết Phan Văn Thuật rời kinh đô ra tận Tuyên Quang xa xôi, họ liền giả làm lính của ông, mang tiền bạc về làng Phước Sơn nói với vợ ông là được ông sai về để làm lại nhà cửa cho ông vì lúc này gia đình ông đang sống trong một ngôi nhà tranh tre đã xuống cấp. Tin lời, vợ ông để cho thợ làm lại nhà. Một ngôi nhà ngói 5 gian được dựng lên. Giữa nhà có một bức đại tự sơn son thếp vàng đề 3 chữ: ĐỨC VI QUÝ. Ông chẳng hay biết gì việc này, mãi đến khi bị ốm phải về quê dưỡng bệnh ông mới “tá hỏa” vì ngôi nhà 5 gian hoành tráng của mình. Nghe vợ con kể lại sự việc ông mới sinh nghi. Chưa kịp tìm gặp lại cha con người đã âm thầm “trả ơn” cho mình thì ông qua đời. Trước khi mất, ông dặn vợ con phải tìm cho ra “người lính giả”, trả lại tiền xây nhà và nói lời cám ơn”. Ông không những là người “khai khoa” cho dòng tộc, mà còn là người “tích đức” cho con cháu.

LÊ THÍ

.
.
.
.
.