KỶ NIỆM 140 NĂM NGÀY SINH CỤ HUỲNH THÚC KHÁNG

Cụ Huỳnh với chủ quyền Hoàng Sa

;
Thứ Sáu, 30/09/2016, 08:42 [GMT+7]

Vấn đề mang tính thời sự hiện nay là chủ quyền biển đảo trên Biển Đông, trong đó có quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Câu chuyện khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, từ năm 1938 đã được cụ Huỳnh đề cập trên báo Tiếng Dân.

Từ tháng 7.1938, báo Tiếng Dân (do cụ Huỳnh làm chủ nhiệm kiêm chủ bút) bắt đầu đăng loạt bài về quần đảo Hoàng Sa (Tây Sa), như Quần đảo Tây Sa (Paracels) với Nhật và Pháp (báo Tiếng Dân, số 1280), Quần đảo Tây Sa trở thành vấn đề quan trọng (báo Tiếng Dân, số 1281, ngày 16.7.1938), Việc Paracels (Tây Sa), Pháp chính thức nhận chủ quyền đảo ấy (báo Tiếng Dân, số 1282, ngày 19.7.1938). Đặc biệt là bài Dấu tích đảo Tây Sa (Paracels) trên lịch sử Việt Nam ta và giá trị  bản “Phủ biên tạp lục” (báo Tiếng Dân, số 1284, ngày 23.7.1938) của tác giả Sử Bình Tử, tức Huỳnh Thúc Kháng.

Từ năm 2007 tỉnh Quảng Nam thành lập Giải thưởng Báo chí Huỳnh Thúc Kháng.  TRONG ẢNH: Lễ trao Giải thưởng báo chí Huỳnh Thúc Kháng năm 2016. Ảnh: A.N
Từ năm 2007 tỉnh Quảng Nam thành lập Giải thưởng Báo chí Huỳnh Thúc Kháng. TRONG ẢNH: Lễ trao Giải thưởng báo chí Huỳnh Thúc Kháng năm 2016. Ảnh: A.N

Từ một bài báo...

Bài Dấu tích đảo Tây Sa (Paracels) trên lịch sử Việt Nam ta và giá trị bản “Phủ biên tạp lục” của cụ Huỳnh Thúc Kháng là một bài nghiên cứu rất công phu, có giá trị khoa học và pháp lý. Trong bài viết này, cụ Huỳnh đề cập việc tranh chấp quần đảo Hoàng Sa giữa Pháp và Nhật trở nên nghiêm trọng trên trường quốc tế. Và bài báo khẳng định: “Theo các báo cáo ta gần đây sưu tập các tài liệu về đảo Tây Sa để chứng minh thì đảo ấy là phần sở hữu của nước Nam ta, vì chính người Nam đã chiếm trước hết và đã kinh dinh các công cuộc ở đảo ấy”. Cụ Huỳnh liệt kê các cuốn sách từ Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn cuối đời Lê; Đại Nam Nhất thống chí cả bản trước và bản Cao Xuân Dục soạn lại; Bản triều chính yếu thực lục của hai triều Gia Long - Minh Mạng; Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú; đồng thời bổ sung thêm cả danh mục và trích đoạn Cống hạ ký văn của Trương Quốc Dụng, mục “Phong vực”; Mân hành thi thoại và Đông hành thi thuyết của Lý Văn Phức; Việt sử cương giám của Nguyễn Thông…, trong đó đều đề cập Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam.

Trước hết, cụ Huỳnh nhấn mạnh vấn đề chủ quyền quần đảo Hoàng Sa cần phải dựa vào các tài liệu chữ Hán làm minh chứng: “…chúng ta lại phát kiến một điều không ngờ nữa là một mớ sách chữ Hán của tiền nhân ta lâu nay đã bỏ xó, lề hư bìa nát,… nay nhân vấn đề đảo Tây Sa, trở thành món tài liệu rất quý giá có quan hệ đến công pháp quốc tế không phải là ít”. Trong bài báo, căn cứ tư liệu của Phủ biên tạp lục, cụ Huỳnh viết: “…nơi phủ Quảng Ngãi, huyện Bình Sơn, làng An Bình gần biển, ngoài biển có nhiều hòn đảo, trong đó có đảo Hoàng Sa dài ước 30 dặm.

Rồi kể vật sản: yến sào, chim biển, ốc taive, xà cừ, đồi mồi, hải sản… Sử chép truyện chúa Nguyễn có đặt đội Hoàng Sa 70 suất thay phiên ra đảo lấy hải vật, đi ba ngày đêm đến đảo, mỗi năm tháng 3 đi, tháng 8 về; lại có chép sao biên bản của Thuyên Đức Hậu là cai quản đội Hoàng Sa ấy, kể rõ mỗi năm nhặt được thiếc mấy cân, vàng mấy hốt, đồi mồi, yến sào mấy cân, lại có khi nhặt được đồng khí, súng tiền… (những thứ có lẽ là đồ vật của những chiếc tàu chìm đây đó). Đến giá trị nhất là tờ công văn của quan Chánh Đường quan huyện Văn Xương, phủ Huỳnh Châu (Trung Hoa) gửi sang chúa Nguyễn ở Thuận Hóa, khi hộ tống hai tên trong đội Hoàng Sa bị phiêu bạt sang đây; trong “Thuận Hóa” công văn có chép: “Năm Càn Long thứ 19 (1754 triều Hiến Võ năm thứ 17) tên quân đội Cát Vàng, người làng An Bình, huyện Chương Mỹ, phủ Quảng Ngãi, nước An Nam, ngày tháng 7 đi ra Vạn Lý Trường Sa tìm nhặt các hải vật, tám tên lên bờ tìm nhặt để hai tên lại giữ thuyền, rủi bị trận bão, đứt dây neo, thuyền trôi dạt vào bãi biển Tàu, viên huyện Văn Xương cho thuyền về xứ, chúa Nguyễn Thuận Hóa truyền cai hạ Thức Lương Hầu làm thư phúc đáp”.

Kết luận bài báo, cụ Huỳnh Thúc Kháng viết: “Vấn đề “quốc tịch đảo Tây Sa” này, nếu trên sân khấu quốc tế, nhận chủ quyền sở hữu của những ai chiếm trước và có tài liệu làm chứng hẳn hoi, như luật điền thổ, khai tài, khai lập nghiệp ở xa, bằng theo lộ tịch và phân thư chúc từ của tiền nhân để lại, tưởng không có nước nào có chứng cứ đầy đủ như nước ta. Quyền ngoại giao ta ngày nay đã phó thác cho nước Pháp, quyền này đã có nước bảo hộ đối phó”.

...Đến giá trị muôn đời

Bằng tư liệu thông qua các cuốn thư tịch cổ, cụ Huỳnh Thúc Kháng cho rằng, tuy thời gian viết khác nhau và có thể không tham khảo nhau, nhưng những ghi chép, khảo tả về Hoàng Sa và đội Hoàng Sa là tương đối thống nhất. Cụ khẳng định: Hoàng Sa là một phần lãnh thổ của nước Nam ta, vì chính người Nam đã chiếm trước hết và đã kinh dinh các công cuộc ở đảo ấy. Từ thế kỷ XVII các chúa Nguyễn và triều Nguyễn đã xác định và thực thi chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và coi đây là công việc, nhiệm vụ rất quan trọng của triều đình. Các chuyến đi của thủy quân, việc xây miếu, cắm mộc bài, trồng cây, bảo vệ ngư dân, thực hiện nghĩa vụ đối với các thuyền nước ngoài bị chìm đắm… thể hiện trách nhiệm của nhà nước trong việc bảo vệ đất nước và nhân dân.

Cũng thông qua các tài liệu này, cụ Huỳnh Thúc Kháng nêu lên hai điều cần lưu ý: Một, triều Nguyễn ta từ thời Minh Mạng về trước rất lưu tâm mặt quốc phòng, không chỉ về mặt biên giới lục địa như Xiêm La, Cao Miên, săn sóc mở mang, mà về đường hải phận thường có thuyền quan phải đi khảo sát và giao thiệp với các xứ ngoài. Hai, vấn đề chủ quyền quần đảo Hoàng Sa cần phải dựa vào những sách tiền nhân ta viết bằng chữ Hán, các thư tịch cổ để minh chứng, khẳng định Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Đây được xem là những căn cứ quan trọng về chủ quyền hợp pháp tại quần đảo Hoàng Sa để các thế hệ Việt Nam hôm nay và mai sau tiếp tục thực hiện việc giữ gìn, bảo vệ.

Với kiến thức lịch sử dân tộc uyên bác, cụ Huỳnh đã khai thác di sản văn hóa của tiền nhân bằng một thái độ nghiêm túc, trân trọng và đi tới kết luận đúng đắn về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa. Theo PGS-TS. Nguyễn Thị Kim Dung (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh), kết luận của bài báo không chỉ có ý nghĩa chính trị đương thời, mà còn có giá trị khoa học, pháp lý quan trọng đối với hiện nay. Thông qua bài báo này, chúng ta thấy trách nhiệm của Huỳnh Thúc Kháng với Tổ quốc, với nhân dân, nhắc nhở mỗi chúng ta cần sống có trách nhiệm với dân tộc, với đất nước, khi tranh chấp ở Biển Đông ngày càng trở nên phức tạp, gây quan ngại lớn cho khu vực, đe dọa hòa bình và ổn định của khu vực và thế giới.

TRƯỜNG ĐỒNG
(Tài liệu tham khảo: “Huỳnh Thúc Kháng với cách mạng Việt Nam và quê hương Quảng Nam” - Nxb Chính trị quốc gia Sự Thật).

.
.
.
.
.
.