Ông cử làng Phong Thử

;
Thứ Bảy, 17/12/2016, 12:22 [GMT+7]

Phan Thúc Duyện là một trong những nhân vật quan trọng hàng đầu của phong trào Duy tân. Ông“đứng mũi chịu sào” ở lĩnh vực kinh tế - thương mãi - lĩnh vực khó khăn nhất của phong trào. Điều đáng buồn là ông rất “nổi bật” trong cái nhìn của đồng nhân, đồng chí và cả của kẻ thù nhưng lại “mờ nhạt” trong mắt các nhà nghiên cứu.

Phan Thúc Duyện (1873 - 1944).
Phan Thúc Duyện (1873 - 1944).

Vị cử nhân của khoa thi đặc biệt

Cử Diện hay cử Phong Thử là tên dân gian gọi cử nhân Phan Thúc Duyện. Gọi là cử Phong Thử vì ông quê làng Phong Thử, nay là xã Điện Thọ, thị xã Điện Bàn. Còn cử Diện là do giọng Quảng thường đọc vần “uyên” thành vần “iên”. Quốc triều Hương khoa lục của Cao Xuân Dục lại ghi tên ông là Phan Sung (theo nhiều nhà nghiên cứu thì do chữ Duyện và chữ Sung có tự dạng giống nhau).

Phan Thúc Duyện hiệu Phong Thử, tự My Sanh, sinh năm 1873, trong một gia đình nông dân, đông anh em. Ông là học trò xuất sắc của trường Đốc Quảng Nam cùng với Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Đình Hiến… Ông đỗ vị trí thứ 6 trong khoa thi Hương năm 1900, một khoa thi đặc biệt đối với sĩ tử Quảng Nam. Khoa này Quảng Nam có 14 người đỗ trong số 42 người của cả trường thi, lại chiếm luôn 4 vị thứ đầu bảng. Đây là khoa thi đóng góp các danh hiệu cao quý như “tứ tuyệt”, “tứ hổ”, “tứ hùng” cho Quảng Nam.     

Nhưng đặc biệt hơn, rất nhiều người đỗ khoa này sau đó được Quốc triều Hương khoa lục ghi thêm chữ “can tội” phía sau tên vì  đã “cả gan” chống lại chế độ thực dân phong kiến thối nát, như Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Lê Bá Trinh, Lê Lượng…

Thi đỗ xong, Phan Thúc Duyện không chịu ra làm quan mà ở nhà cùng các đồng hương thực hiện công cuộc duy tân với mục tiêu “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”. Không những là người sáng lập, tham gia ngay từ đầu, Phan Thúc Duyện còn là một vị lãnh đạo quan trọng của phong trào, đảm nhận lĩnh vực thương mại - lĩnh vực khó khăn và mới mẻ, nhất là đối với các nhà nho.

Năm 1908, nhân vụ kháng thuế, Phan Thúc Duyện bị kêu cùng mức án và cùng bị đày Côn Đảo một lượt với Huỳnh Thúc Kháng. “… Nhưng xét Phan Châu Trinh đã vâng án nghị xử tử, phát đi Côn Lôn; Huỳnh Thúc Kháng, Phan Thúc Diện, xin cùng Phan Châu Trinh đồng định tội xử tử, phát án Côn Lôn” (Nguyễn Thế Anh - Phong trào kháng thuế ở Miền Trung qua các châu bản triều Duy tân, Nxb Văn Học, 2008, tr 57). Đến năm 1919, nhờ con trai vốn có quốc tịch Pháp khiếu nại, ông mới được trả tự do nhưng bị chỉ định an trí ở Quảng Bình để dễ kiểm soát. Tại đây ông đã xây dựng một trang trại theo mô hình “vườn, ao,  chuồng” như một thử nghiệm cho sản xuất nông nghiệp kiểu mới. Trang trại của Phan Thúc Duyện sau này được người dân Quảng Bình gọi là “vùng đất Quảng Nam”. Năm 1930, ông về quê, sau đó (1932) vào Phan Thiết xây dựng “nhàn điền” nhưng có lẽ để liên lạc với Công ty Liên Thành, một tổ chức Duy tân ở phía Nam. Năm 1935, ông về lại Quảng Nam cộng tác với một số nhà thầu để làm đường sắt, xây ga Phước Cang (Thăng Bình). Năm 1937, ông về lại Phong Thử tham gia xây dựng, quy hoạch lại quê hương theo tinh thần xây dựng nông thôn mới của phong trào Duy tân. Ông vận động xây dựng sân vận động, chợ, nhà hát, đường sá, quy hoạch lại nhà cửa, lập hương ước… góp phần biến quê hương ông trở thành một vùng quê trù phú, văn minh hàng đầu trong tỉnh như tinh thần mà các đồng chí của ông đã mơ ước từ những ngày trứng nước của phong trào Duy tân.
Ông mất ngày 3.10.1944, thọ 72 tuổi.

Nhà Duy tân thực hành

Phan Thúc Duyện được xem là người có khả năng đa diện nhất của phong trào Duy tân, cân bằng giữa lý thuyết và hành động, có tính thực tiễn rất cao. Ông  lãnh đạo phong trào trên cả ba mặt trận: nông hội, thương hội và giáo dục.

Phan Thúc Duyện là đồng tác giả của các Nông hội trong tỉnh như Cờ Vĩ, Yến Nê, Bửu Sơn, Mỹ Sơn… với mục đích đổi mới trong sản xuất nông nghiệp, đưa nông nghiệp đi lên sản xuất lớn, trở thành một ngành sản xuất hàng hóa, gắn liền với các thương hội.

Ông cũng là người thành lập và điều hành Hợp thương Diên Phong ở Phong Thử vào thời kỳ 1906-1907. Đây là tổ chức kinh doanh lớn nhất, hiệu quả nhất và có tiếng tăm nhất, thể hiện tư tưởng, tinh thần của phong trào Duy tân. “… Hợp thương Phong Thử biến thành đầu não cho các thương cuộc trong tỉnh… Có thể nói đây là thương cuộc có quy củ bậc nhất của nước ta thời ấy…” (Nguyễn Văn Xuân, Phong trào Duy tân, Nxb Lá Bối, 1970, trang 188). Năm 1906, khi xây dựng Hợp thương Hội An, các lãnh tụ phong trào cũng cử  Phan Thúc Duyện điều hành cơ sở này.

Bên cạnh Thương hội và Nông hội, Phan Thúc Duyện cũng là một thành viên quan trọng trong lãnh vực giáo dục của phong trào Duy tân. Ông là người sáng lập, quản lý và giảng dạy ở trường Diên Phong - một trong 2 trường lớn nhất của phong trào (ở Phong Thử, cạnh Hợp thương Diên Phong). Trường Diên Phong “gây một tiếng vang rộng lớn hơn cả vì trước hết nó không phải là của chính quyền mà là của tư nhân. Nhà trường tự định liệu các sách học, các môn hát và thể dục… Diên Phong gồm hai trường, một ngôi ở ngay Hội thương, ngôi thứ hai ở chùa (gần chợ Phong Thử). Tổng số học sinh cả 2 ban cũng lên tới hơn 200 người… Ngoài việc giảng dạy trường thường tổ chức các cuộc diễn thuyết có hội thảo để các bậc khoa cử tới dự”. (Nguyễn Văn Xuân, Sđd, tr 214)

Sự đánh giá thiếu công bằng

Người Pháp đã quy cho Phan Thúc Duyện rất nhiều tội, nào là mặc âu phục vào “quậy” ở Văn thánh Điện Bàn, lập thương hội, tham gia diễn thuyết, viết thư cho Huỳnh Thúc Kháng với lời lẽ “cường quyền diện tự”, liên lạc với Trần Quý Cáp và hoan hô cuộc biểu tình chống thuế…, nên kết án “trảm giam hậu” ngang mức án với Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng.

Lúc sinh thời nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Xuân hay than phiền việc các nhà nghiên cứu xếp Phan Thúc Duyện sau bộ ba Duy tân Quảng Nam (Phan - Trần - Huỳnh). Ông cho đó là không công bằng, thua cả người Pháp. Lý giải việc này, ông đưa ra mấy lý do: “Giữa xã hội trọng hư danh, Phan Thúc Duyện không có bằng đại khoa là một thiệt thòi rồi. Ông tuy làm thơ hay song không phải là thi sĩ lớn, lại là một thiệt thòi thứ hai đối với sĩ phu thích ngâm nga. Ông lại đăng ký vào lĩnh vực mà trí thức thời ấy hoặc không tôn trọng là kinh tế, thương mãi…”.  Và cao hơn là do: “Các tác giả Việt Nam thường ít chịu tra cứu hoặc có tra cứu cũng chỉ bám chặt vào mấy đại danh hay hư danh mà không đi vào thực chất của vấn đề”. (Phan Thúc Duyện trong phong trào Duy tân Việt Nam, Nxb Văn Hóa, 1997, tr 184).

Nguyễn Văn Xuân còn viết: “Bệnh  học khoa cử in sâu vào tâm não của sĩ phu và cả quần chúng cho nên dầu công lao của Phan Thúc Duyện cực kỳ lớn lao, đứng vào hàng tiền đạo của phong trào, nếu ở nước khác thì đã tượng đồng bia đá, không khác gì Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, thì ông trở nên mờ nhạt. Ông chỉ nổi bật trong hàng ngũ đồng nhân đồng chí và với cả kẻ thù: đế quốc Pháp và Nam triều” (sđd, trang 185).

Có lẽ đã đến lúc cần có sự đánh giá công bằng và hợp lý đối với ông!

LÊ THÍ

.
.
.
.
.