Một người Quảng thức thời

;
Chủ Nhật, 02/04/2017, 10:23 [GMT+7]

“Đất Quảng Nam là xứ địa linh nhân kiệt, sông núi trùng điệp nên người Quảng Nam học giỏi tài cao, mưu sâu mẹo hiểm, nhưng phải cái tính tự cao lại hay lý sự, tiết tháo lại ngang tàng... Do đó ra đời được nhiều người nể mà không thương, được nhiều người trọng mà không phục nên mỗi khi giữ chức cao quyền trọng thường gây gổ! Nếu được làm mưu sĩ thì khó ai bằng…”.

Những nhận xét nêu trên được Lê Đĩnh (có tài liệu ghi là Lê Đình Đĩnh) thường nói với con cháu và các môn đồ lúc sinh thời, như một sự tổng kết những chiêm nghiệm từ cuộc đời làm quan đầy trách nhiệm nhưng cũng đầy sóng gió của mình.

Chân dung Lê Đĩnh.
Chân dung Lê Đĩnh.

Một người Quảng…hiểu người Quảng

Lê Đĩnh sinh năm Đinh Mùi (1847) tại làng Đông Mỹ (hiện nay là Na Kham), huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn (nay là xã Điện Quang, thị xã Điện Bàn), là thân phụ của y sĩ Lê Đình Dương và bác sĩ Lê Đình Thám. Ông xuất thân trong một gia đình Nho học có tiếng ở địa phương. Lúc nhỏ học trường Đốc Quảng Nam ở Thanh Chiêm, Điện Bàn. Năm 1870 dưới triều Tự Đức, ông thi đỗ cử nhân tại Trường thi Thừa Thiên.

Ông đã trải qua nhiều chức vụ quan trọng như Biện lý Bộ Công, Tổng đốc Hà Yên (Hà Nội - Hưng Yên), Thượng thư Bộ Binh, Hữu Đô Ngự sử Viện Đô sát, Đông các điện Đại học sĩ sung Cơ mật đại thần. Ông cũng từng được cử làm Chánh chủ khảo khoa thi Hương ở trường thi Nghệ An (một trường thi nổi tiếng có nhiều sĩ tử giỏi và ương ngạnh) năm 1882.

Là nhà nho uyên bác, có tư tưởng tiến bộ lại rất khẳng khái nên ông được triều đình tin cẩn giao nhiều trọng trách, đặc biệt như làm Tổng đốc Hà Nội sau khi Hoàng Diệu tuẫn tiết, làm chánh sứ đi sứ Hương Cảng (Hồng Kông), Tân Gia Ba (Singapore), Nam Dương (Indonesia), Miến Điện (Myanmar).
Mỗi lần đi sứ về ông đều có tấu trình nêu rõ những nhận xét và kiến nghị triều đình thực hiện cải cách để đất nước hùng cường mới mong giữ được nền độc lập trước họa xâm lăng của phương Tây trên khắp thế giới.

Năm 1881, khi đi sứ ở Hương Cảng (Hồng Kông) về, trong sớ tâu ông viết: “Các nước Thái Tây mà phú cường là cốt ở việc binh và việc buôn bán. Lấy buôn bán mà nuôi binh lính. Gần đây, Nhật Bản theo các nước Thái Tây cho người đi buôn bán khắp mọi nơi. Nước Tàu cũng bắt chước cho người nước ngoài ra vào buôn bán. Nước ta người khôn ngoan, lại lắm sản vật. Nếu theo người ta mà làm thì cũng có thể giữ vững được nền độc lập và chủ quyền quốc gia...”.

Năm 1882, ông tiếp tục được cử làm Chánh sứ sang Tân Gia Ba để tìm hiểu tình hình. Khi về ông lại có sớ tâu rõ tình hình và sự tiến bộ của các nước, nhất là sự tiến bộ về kỹ thuật nhờ tiếp nhận văn minh của phương Tây. Nhưng tất cả đề nghị cải cách của ông bị nhà vua và phe bảo thủ trong triều phớt lờ.
Đau buồn trước hiện tình đen tối của đất nước, bất lực trước thời cuộc và triều đình bảo thủ, ông lấy cớ phải phụng dưỡng mẹ già để cáo quan về ẩn dật, lấy việc dạy học trò làm kế để thân tâm trong sạch, mặc dù lúc đó ông chỉ mới 37 tuổi (1884). Phạm Tuấn, Phạm Liệu... những tiến sĩ của Ngũ phụng tề phi sau này (1898) đều là học trò của ông.

Khi cáo quan về quê, Lê Đĩnh thường lấy câu châm ngôn trong Đạo đức kinh của Lão Tử để răn dạy mình và con cái: “Tri túc bất nhục. Tri chỉ bất đãi. Khả dĩ trường cửu” (Biết đủ thì không bị nhục nhã. Biết dừng thì không gặp nguy hiểm. Có thể được lâu bền).

Đau buồn trước thời thế và nhất là cái chết của người con trai (Lê Đình Dương, mất ngày 13.6.1919), chưa  đầy một năm sau (1920), Lê Đĩnh cũng ra đi ở tuổi 72 tại quê nhà. Mộ ông hiện còn tại làng Na Kham (xã Điện Quang, thị xã Điện Bàn).

Truyền khí phách cho con

Nhờ nắm bắt được thời thế, ông đã hướng hai người con trai của mình đi theo con đường mới. Các con ông rất tinh thông chữ Hán qua việc truyền dạy của ông, thấm nhuần tư tưởng phương Đông, đạo lý dân tộc đồng thời đi theo con đường Tây học để nắm bắt kỹ thuật, học thuật phương Tây hoài mong góp phần canh tân đất nước. Lê Đình Dương đã tốt nghiệp Á khoa khóa y sĩ đầu tiên, còn Lê Đình Thám đỗ thủ khoa khóa bác sĩ đầu tiên của Trường Cao đẳng Y khoa Đông Dương.

Thừa hưởng khí phách của cha, lại có nền học vấn tốt, các con ông đều tham gia cách mạng. Lê Đình Dương (1894 - 1919)  tham gia cuộc khởi nghĩa của Việt Nam Quang phục hội năm 1916 (còn gọi là cuộc khởi nghĩa của vua Duy Tân) do Thái Phiên và Trần Cao Vân lãnh đạo, với cương vị là Tổng trấn Nam Ngãi và Cố vấn về Ngoại giao của phong trào. Cuộc khởi nghĩa thất bại, ông bị bắt đày lên Buôn Ma Thuột. Không chịu đựng sự hà khắc của tên Công sứ Pháp, Lê Đình Dương đã uống độc dược tuẫn tiết vào ngày 13.6.1919, khi mới 26 tuổi, để lại người vợ trẻ và hai đứa con thơ (Vợ ông là bà Hoàng Thị Tuất cháu nội cụ Hoàng Diệu và cháu ngoại cụ Phạm Phú Thứ).

Lê Đình Thám (1897 - 1969) là người đã dày công nghiên cứu về y học cũng như Phật học. Kiến thức Tây học đã giúp ông cộng tác với Bác sĩ Normet, Giám đốc Y tế Trung phần phát minh ra Sérum Normet (dịch truyền Normet), được giới y học của Pháp và Việt Nam thời đó nể trọng, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp cứu người. Nhưng quan trọng hơn, nhờ kiến thức Hán học tiếp thu được từ thân phụ, ông đã nghiên cứu sâu Phật học, là dịch giả của nhiều bộ sách quan trọng, nổi tiếng nhất là Bộ kinh Thủ Lăng Nghiêm. Nhờ thế, Lê Đình Thám được vinh danh là một trong 105 Danh tăng Việt Nam. Sách Việt Nam Phật giáo sử luận tập III viết: “Lê Đình Thám có lẽ là cư sĩ đầu tiên ở thế kỷ XX đã dự phần vào việc đào tạo Tăng tài. Phật học của ông được các bậc tôn túc công nhận là thâm uyên” (trang 89). Ông cũng là người suốt đời đấu tranh cho hòa bình của Việt Nam và thế giới trên cương vị Chủ tịch Hội đồng Hòa bình thế giới của Việt Nam: “Lê Đình Thám là một nhân vật có cuộc đời đặc biệt. Ông không chỉ có vai trò quan trọng trong việc chấn hưng Phật giáo ở miền Trung và cả nước mà còn biết đưa triết lý của đạo Phật vào cuộc sống, biến nó thành sức mạnh của dân tộc để đồng hành với đất nước trong công cuộc đấu tranh giành độc lập” (Dương Trung Quốc).

Là đại thần trong một triều đình bảo thủ nhưng lại nhận chân được thời thế, dám đề xuất chủ trương canh tân đất nước, là một điều khó. Là một người Quảng mà hiểu được hết ưu, nhược điểm của người Quảng, cũng không phải là điều dễ. Chọn cho mình một hướng đi riêng, truyền khí phách và nhất là định hướng được cho cuộc đời của các con như Lê Đĩnh, cũng là việc hiếm xưa nay. Ông xứng đáng được tôn vinh là một người Quảng thức thời!

LÊ THÍ
 

.
.
.
.
.