Người mẹ anh hùng

;
Chủ Nhật, 28/04/2019, 08:46 [GMT+7]

“Mặc dầu lúc bấy giờ chồng, con hy sinh là nỗi đau tột cùng, là vết thương lòng khó khỏi đối với mẹ. Nhưng công việc Đảng giao đang còn dang dở, mẹ phải tiếp nối truyền thống gia đình thay chồng con làm tròn trách nhiệm. Bởi vì mẹ là đảng viên”.

Bà mẹ Việt Nam anh hùng Trương Thị Thỉnh. Ảnh: A.TR
Bà mẹ Việt Nam anh hùng Trương Thị Thỉnh. Ảnh: A.TR

Trong chuyến công tác đến huyện Eakar, tỉnh Đắk Lắk để liên hệ xác minh lý lịch và sưu tầm những kỷ vật của các Mẹ Việt Nam anh hùng, chúng tôi may mắn được cán bộ Phòng LĐ-TB&XH của huyện tận tình đưa đến nhà Bà mẹ Việt Nam anh hùng có quê gốc tại Điện Bàn, Quảng Nam - đó là mẹ Trương Thị Thỉnh. Đã bước qua tuổi 93 nhưng mẹ vẫn còn khỏe mạnh, minh mẫn. Gặp đồng hương Quảng Nam đến thăm, mẹ đon đả mời chào, giục con cháu pha trà mời khách... Những ký ức về gia đình, về những mất mát, cống hiến, hy sinh được mẹ chậm rãi kể cho chúng tôi nghe...

Động viên chồng con ra trận

Mẹ Trương Thị Thỉnh sinh năm 1926 trong một gia đình nghèo, giàu truyền thống cách mạng ở xã Điện Hồng, Điện Bàn, Quảng Nam. Năm 1943, khi vừa tròn 18 tuổi, mẹ lập gia đình với chàng trai trẻ cùng quê Lê Văn Trình (SN 1924). Sớm giác ngộ và tích cực tham gia phong trào cách mạng tại quê nhà, năm 1944 mẹ Thỉnh vinh dự được đứng vào hàng của Đảng... Khi cả nước hừng hực khí thế trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, mẹ đã cùng chồng hăng hái tham gia phong trào cách mạng, cùng với người thân, bà con lối xóm nổi dậy cướp chính quyền.

Cách mạng Tháng Tám thành công, mẹ Thỉnh cùng chồng tiếp tục tham gia phong trào cách mạng tại địa phương, tham gia xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng còn non trẻ... Năm 1951, vợ chồng mẹ Thỉnh đón nhận hạnh phúc vỡ òa khi đứa con đầu lòng là anh Lê Văn Thỉnh ra đời. Lần lượt sau đó 7 người con (2 trai, 5 gái) được sinh ra trong vòng tay yêu thương, chăm sóc của hai vợ chồng. Con cái đông, mẹ càng vất vả vì cuộc mưu sinh. Bất chấp những đói nghèo, bất chấp bom rơi đạn lạc và sự lùng sục, bắt bớ của kẻ thù, mẹ vẫn nuôi dạy các con trưởng thành. Đau đớn là, do đạn bom chiến tranh, bệnh tật và điều kiện thuốc men thiếu thốn đã cướp đi của mẹ 3 đứa con khi còn nhỏ dại.

Năm 1965, Mỹ đưa quân vào Việt Nam tham chiến, tiến hành “Chiến tranh cục bộ” ở miền Nam Việt Nam và mở rộng chiến tranh ra cả nước. Tháng 10.1965, quân Mỹ từng bước nống ra, chốt điểm, cùng với quân ngụy tiến hành quyết liệt “bình định nông thôn”... Trước tình cảnh đất nước bị bom đạn của kẻ thù dày xéo, quê hương bị địch ngày đêm lùng sục, bắt bớ; theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, chồng và người con trai đầu của mẹ Thỉnh vào đội du kích xã. Ngày tiễn chồng và con ra đi hoạt động bí mật, mẹ Thỉnh động viên chồng con phải luôn trung thành với lý tưởng cách mạng, vững chắc tay súng bảo vệ quê hương...

“Bởi vì mẹ là đảng viên”

Chiến trường ngày càng ác liệt, nhất là sau chiến dịch Mậu Thân 1968, ở Quảng Nam nói chung và Điện Bàn nói riêng, dưới sự yểm trợ của quân Mỹ, ngụy quân - ngụy quyền mở nhiều chiến dịch lùng sục, cho quân nống ra lấn chiếm các vùng tranh chấp yếu và vùng ta mới mở ra, xây dựng các khu “bình định”, đưa số ngụy tề lưu vong về hoạt động, đưa quân về củng cố và xây dựng bộ máy kìm kẹp ở những nơi chúng vừa kiểm soát... Thế rồi tin dữ liên tiếp ập về với mẹ Thỉnh.

Những kỷ vật của Bà mẹ Việt Nam anh hùng Trương Thị Thỉnh tặng Bảo tàng Quảng Nam.
Những kỷ vật của Bà mẹ Việt Nam anh hùng Trương Thị Thỉnh tặng Bảo tàng Quảng Nam.

Mẹ kể, năm 1969 trong vòng 4 tháng, mẹ đón nhận cùng lúc hai cái tang. Chồng mẹ - ông Lê Văn Trình là đội viên đội du kích xã Điện Hồng, trong một trận đánh chống địch càn vào làng lùng sục, bắt bớ, ông cùng đồng đội đánh trả quyết liệt để bảo vệ cơ sở cách mạng, bảo vệ xóm làng và đã hy sinh vào ngày 4.3.1969. Tin chồng chết như sét đánh ngang tai, bàng hoàng ôm con khóc trong nỗi đau đến uất nghẹn, Mẹ đau một mà căm thù giặc đến mười. Nỗi đau mất chồng chưa kịp nguôi thì hơn 4 tháng sau, vào ngày 12.7.1969, người con trai đầu của mẹ - anh Lê Văn Thỉnh mới bước qua tuổi 18, đã ngã xuống vì sự bình yên của quê hương, xóm làng. Mẹ bảo: “Mặc dầu lúc bấy giờ chồng, con hy sinh là nỗi đau tột cùng, là vết thương lòng khó khỏi đối với mẹ. Nhưng công việc Đảng giao đang còn dở dang, mẹ phải tiếp nối truyền thống gia đình thay chồng con làm tròn trách nhiệm. Bởi vì mẹ là đảng viên”.

Vượt qua nỗi đau, mẹ đào hầm bí mật ngay dưới mái nhà tranh của mình, nuôi giấu cán bộ và du kích, tiếp tế lương thực cho du kích, bộ đội. Khi người con gái thứ hai là Lê Thị Vĩnh đến tuổi trưởng thành, mẹ động viên noi gương cha và anh vào đội du kích xã. Ngày tiễn con đi, mẹ dặn: “Cha và anh Hai đã hy sinh. Con phải giữ gìn và cố gắng công tác thật tốt để phát huy truyền thống gia đình, quê hương. Sớm trở về với mẹ và các em”. Nhưng sự ác liệt, nghiệt ngã của chiến tranh không để cho lòng mẹ được giây phút yên bình, không để cho mẹ có ngày được gặp lại con gái như mong mỏi. Ngày 26.1.1975, chị Lê Thị Vĩnh đã anh dũng hy sinh trong một trận đánh truy kích địch cùng du kích xã. Mẹ nói, có lẽ sự hy sinh của chị Vĩnh đã để lại cho mẹ bao nỗi đớn đau, xót xa, vì chỉ hơn 2 tháng sau đó quê hương Điện Bàn, Quảng Nam đã hoàn toàn được giải phóng.

Mẹ đưa tay lau vội dòng lệ trên mắt và chỉ cho chúng tôi bức ảnh trắng đen được đóng khung cẩn thận treo trên tường. Bức ảnh chụp chồng mẹ cùng 3 người con. “Chồng Mẹ, thằng Hai, con Ba và em nó đó. Tất cả đều đã...”. Giọng mẹ rưng rưng.

Tri ân mẹ anh hùng

Với những đóng góp, cống hiến, hy sinh to lớn trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, mẹ Trương Thị Thỉnh được Nhà nước được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhì, gia đình mẹ được tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Ba và mẹ Thỉnh được phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng vào năm 1994.

Chồng và hai con đã hy sinh cho cách mạng, được an táng tại Nghĩa trang Liệt sĩ Điện Bàn và nghĩa trang gia tộc. Năm 1989, hưởng ứng chủ trương của Đảng và Nhà nước, mẹ cùng các con đi kinh tế mới lên Tây Nguyên và chọn vùng đất Eakar làm nơi định cư. Hiện nay, mẹ Thỉnh sống cùng vợ chồng người con trai thứ Sáu là anh Lê Văn Thịnh, ở khối phố 3, thị trấn Eakar, huyện Eakar. Ở nơi xa, nhưng mẹ vẫn đau đáu một lòng nhớ về quê hương, nơi có những người thân yêu của mẹ nằm lại. Mẹ cùng các con cháu vẫn thường về quê trong những dịp giỗ chạp, tết cổ truyền; trước để gặp gỡ, thăm viếng bà con, họ hàng, sau để hương khói cho chồng con ấm lòng yên nghỉ. Mấy năm nay, sức khỏe không còn như xưa, đi lại khó khăn nên cũng ít về thăm quê, nhưng mẹ Thỉnh luôn nhắc nhở các con chăm đưa các cháu về để biết gốc gác quê hương, viếng mộ cha ông...

Chia tay Mẹ Trương Thị Thỉnh trong những cái ôm chan chứa sự biết ơn, khâm phục và tri ân tấm lòng cao cả, chúng tôi về lại Quảng Nam với những kỷ vật mà mẹ đã nâng niu, giữ gìn từ khi còn ở quê nhà Điện Hồng và mang theo khi lên Tây Nguyên định cư. Đó một chiếc nồi bằng gang (nay đã thủng đáy), chiếc ca, chiếc bình đông i-nox trước đây mẹ thường sử dụng để nấu nướng phục vụ chồng con, tiếp tế cho bộ đội, du kích trong những năm kháng chiến và một chiếc trắp đồng đựng thuốc ăn trầu mẹ luôn mang theo bên mình khi còn ở quê nhà... Thông qua những kỷ vật này, cuộc đời và sự đóng góp, cống hiến, hy sinh của mẹ Thỉnh cũng như hàng nghìn Bà mẹ Việt Nam anh hùng khác sẽ được kể cho các thế hệ sau nghe để qua đó càng thêm trân trọng, tri ân những những đóng góp lớn lao của các Bà mẹ Việt Nam anh hùng.

AN TRƯỜNG

.
.
.
.
.