Tú tài Nguyễn Tường Tiếp và "mười điều lệ làng"

;
Thứ Bảy, 20/04/2019, 08:07 [GMT+7]

Sau hai thế kỷ, đọc lại “Mười điều lệ làng” của Ấm sinh Tú tài Nguyễn Tường Tiếp, chúng ta chẳng những hiểu về tấc lòng của người xưa mà còn thấy rõ hơn trách nhiệm trong việc xây dựng đời sống văn hóa và phát huy dân chủ ở nông thôn hiện nay.

Chân dung cụ Nguyễn Tường Tiếp.
Chân dung cụ Nguyễn Tường Tiếp.

Đôi điều về tác giả

Nguyễn Tường Tiếp (còn gọi là Trấp), sinh năm 1831, mất năm 1890, tên tự Chu Bá, hiệu Nghị Am, thụy Đôn Nhã. Ông là trưởng nam của Tiến sĩ Tam giáp khoa Nhâm Dần (1842) Nguyễn Tường Phổ (người khai nguyên dòng họ Nguyễn Tường ở thị trấn Cẩm Giàng, Hải Dương) và là cháu nội của Binh bộ Thượng thư, Phó Tổng trấn Bắc Thành, Nhuận Trạch hầu Nguyễn Tường Vân. Cụ Nguyễn Tường Tiếp sinh hạ 3 người con gái và 4 người con trai, trong đó có ông Nguyễn Tường Chiếu (Nhu) là thân sinh của ba anh em nhà văn: Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam - những người sáng lập, trụ cột của Tự lực văn đoàn.

Nguyễn Tường Tiếp từng giữ chức Thừa Vụ lang, Đồng Tri phủ, lãnh Tri huyện Thủy Nguyên. Có thời gian ông làm Tri huyện Cẩm Giàng, dân trong vùng quen gọi là Huyện Giám. Khi Tiến sĩ Phạm Phú Thứ (1821 - 1882) làm Tổng đốc Hải An, chính Nguyễn Tường Tiếp đã xây dựng được mối giao tình giữa hai nhà họ Phạm và họ Nguyễn - đồng hương Quảng Nam sống trên xứ Đông.

Theo tư liệu lưu trữ của dòng họ Nguyễn Tường được Trung tâm Quản lý bảo tồn di sản Hội An tổ chức dịch và giới thiệu năm 2016, các vị chức sắc, hào mục, chức dịch làng Cẩm Phô (nay thuộc TP.Hội An) đã tin tưởng giao cho Ấm sinh Tú tài Nguyễn Tường Tiếp thảo “Mười điều lệ làng”.

Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, các làng xã ở Việt Nam theo chế độ tự quản. Mỗi làng phải tự lo lấy việc trị an, sản xuất và nhiều lĩnh vực khác, chỉ những việc lớn, không giải quyết được mới đến chính quyền (huyện đường). Hương ước - tên gọi nôm na trong dân gian là “Lệ làng” - được soạn ra nhằm làm cho mọi người trong làng xã tuân theo những “luật lệ” cơ bản để bảo đảm ổn định cuộc sống của cư dân trong cộng đồng. Hương ước được xem như một bộ luật riêng của làng. Khi xây dựng bộ luật Hồng Đức, để hoàn thiện, thống nhất “phép vua” từ trung ương đến cơ sở, vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497) đã có chỉ dụ: “Thảo ra hương ước phải là người có trình độ nho học, có đức hạnh, có chức và có tuổi tác. Thảo xong, phải được quan trên kiểm duyệt và có thể bị bác bỏ”.

Tấc lòng của người xưa

Trong “Mười điều lệ làng”, trước hết, Nguyễn Tường Tiếp quan tâm đến việc tế tự. Theo ông, tế tự là để cầu phước (tế tự sở dĩ cầu phước). Mà muốn được phước (đắc phước) thì phải có sự thành kính. Lý giải “việc cúng tế của làng ta có đủ tam sanh, thứ phẩm mà phước vẫn chưa được”, ông cho rằng, đó là “do gắng sức ở bên ngoài mà bên trong chưa hẳn đã chân thành vậy”. Nguyễn Tường Tiếp quan niệm: “Cái quý của kẻ sĩ là để làm sáng tỏ lễ nghĩa vậy. Nhanh chóng làm việc, thận trọng lời nói, cung kính, thực sự làm sáng tỏ lễ nghĩa vậy... Làm kẻ sĩ, một khi trải qua cái trống, cái tráp, mới đội mũ nho sinh, khiến cho làm lễ nghi. Nếu suy bỉ không nhận lại nói lời gượng gạo, nay làm kẻ sĩ như thế, ngày sau thông đạt thì làm sao có thể sai khiến con em chăng”.

Các trang đầu của “Mười điều lệ làng”.
Các trang đầu của “Mười điều lệ làng”.

Phê phán tình trạng tế tự lâu nay làng xã không sai phái người có học mà chỉ sai phái dân phu làm thay, ông đề xuất trong “Mười điều lệ làng”: “Nay hãy trừ những người đi dự thi đỗ trường nhất, trường nhì ra đem vào hạng thí sinh, còn những người có ứng thí mà chưa đỗ trường nào và các khóa sinh sơ học, không kể là con em của chức sắc, hào mục trong làng, hễ 3 - 4 ngày trước tế, đều phải tề tựu ở đình, ở văn chỉ hay nhà thờ làng, để sai phái trần thiết, hành nghi, thị lập. Người vắng mặt thì phạt 1 mâm cau trầu rượu, 1 quan tiền. Nếu chẳng tuân theo thì phạt roi đau”. Ông cho rằng: “Đó không phải là khắc nghiệt với học trò, mà là khiến cho biết kính thần linh, thuận với hương đảng vậy. Đó cũng là đầu mối để tiến đức. Vả lại như phu tử là bậc thánh, ở trong xóm làng, ra thì khiêm cung như thế, huống hồ là kẻ sĩ”.

Không đồng ý với quan niệm “của cải trong làng muốn sử dụng thế nào mà chẳng được”, trong “Mười điều lệ làng”, Nguyễn Tường Tiếp yêu cầu phải đề cao tiết kiệm: “Phàm các hạng tiền, thóc đã nhập trong làng phải ghi chép rõ xứ nào được bao nhiêu tiền, xứ nào được bao nhiêu thóc, không thể ẩn lậu không đúng sự thực. Hàng năm tính toán được tiền, thóc bao nhiêu, lượng thu vào để tính chi ra. Lễ kỳ yên được chuẩn tiền bao nhiêu, văn chỉ được chuẩn tiền bao nhiêu, nhà thờ làng chuẩn bao nhiêu, phỏng rõ số lượng, không thể tiêu hoang. Một ngày sau lễ, họp hội chiếu tính. Chức sắc, hào mục đồng ký lưu chiếu. Các việc đại sự như lễ tiếu, ca hay xây dựng cũng y như thế mà liệu”.

Những điều răn

Bên cạnh đề xuất nên khuyến khích, đãi ngộ người có công với làng xã (như cúng ruộng đất, lạc thành cúng tiền, bồi ruộng trồng cây…), Nguyễn Tường Tiếp nhấn mạnh đến việc răn cấm thói ngoan cố, răn cấm tệ buông thả rượu chè và trừng phạt kẻ có lỗi. Đối với tệ rượu chè bê tha, ông thể hiện rõ thái độ nghiêm khắc: “Việc say rượu, thánh nhân vốn rất ghét, phép vua đã trừng trị nghiêm. Phàm trong làng gặp có hội họp hay tế tự, hương ẩm, nếu có kẻ loạn ngôn ồn ào, hống hách thì phạt roi. Nếu phạm thượng thì phạt heo 1 con, trầu rượu 1 mâm”. Khẳng định sở dĩ dân làng phạm pháp là do người ở trên vi phạm, theo ông, “lệ làng” không nên có “vùng cấm”: “Các lý dịch là đầu mục của dân làng, nếu có ai uống càn giữa đường hay quán xá, say sưa thì không chỉ nhục cho riêng thân mình, mà còn làm cho dân không sợ và để điều tiếng đối với làng láng giềng, thuộc loại làm mất thể diện, hễ bị phạm thì phạt heo, trầu rượu không tha”.

Không phải cho đến bây giờ mà cách đây hai thế kỷ, việc họp làng (hương hội) đã là vấn đề làm đau đầu các vị chức sắc, hào mục, chức dịch ở làng xã: “Việc họp làng rất là trần phiền. Mà việc lại không chuyên. Quá sơ lược thì rồi quyền quy về một người. Từ trước, ngày họp không có định kỳ, cho nên phiền toái việc đi mời. Đến sớm thì chỗ ngồi một mình, đã về thì không đến lại”. Để khắc phục tình trạng này, Nguyễn Tường Tiếp khuyến cáo: “Nay giao ước rằng hàng năm mỗi tháng định một ngày họp làng. 12 tháng thì có 12 phiên họp lớn. Phàm mọi việc lớn nhỏ trong làng thì đến ngày này tề tựu tại đình bàn liệu”.

Tác giả “Mười điều lệ làng” còn  hướng làng xã đến mục tiêu làm cho phong tục đôn hậu (đôn hậu tục). Theo đó, “nếu trong làng nghe lời hô hoán, dân lân cận mà không tiếp ứng thì nhẹ phạt roi, nặng phạt vạ. Làm được như thế thì nhân dân yêu kính nhau mà thiện tục đáng khen vậy”. Nguyễn Tường Tiếp không quên nhắc nhở: “Phàm hương sắc, hào mục, lý dịch, lễ mừng, lễ điếu thì lui tới với nhau, lúc bệnh tật thì an ủi nhau. Tình phải gần gũi nhau, ví như một thể. Nếu có sai lầm thì lấy lời lẽ giúp nhau chính đính, không thể nói nặng lời, làm thương tổn hậu tục mà gây ra hiềm thù, kiện cáo”. Phải chăng ông muốn nói đến vấn đề nêu gương, bởi “thượng bất chính, hạ tắc loạn”.

Sau hai thế kỷ, nhiều quy ước trong “Mười điều lệ làng” của Nguyễn Tường Tiếp vẫn còn giá trị trong việc bài trừ thói hư tật xấu ở làng xã và xây dựng nếp sống văn hóa tốt đẹp ở nông thôn.

VÂN TRÌNH

.
.
.
.
.