Hai bài thơ tuyệt mệnh của Phan Thành Tài

;
Thứ Bảy, 04/05/2019, 11:01 [GMT+7]

Phan Thành Tài, người con ưu tú của xứ Quảng, cách đây 103 năm đã đem “máu làm nước, xác làm tro” để “vun cho đóa hoa tự do” được nở. Hai bài thơ tuyệt mệnh của ông lâu nay được con cháu tộc Phan ở làng Bảo An “truyền miệng” lưu giữ như một trong những “bảo vật” của dòng họ!

Chí sĩ Phan Thành Tài,
Chí sĩ Phan Thành Tài,

Cứu làng khỏi bị xóa sổ

Phan Thành Tài (1878 - 1916) là một trong những yếu nhân của cuộc khởi nghĩa Việt Nam Quang Phục Hội (thường gọi là cuộc khởi nghĩa của vua Duy Tân) tháng 5 năm 1916.

Cuộc họp ngày 27.4.1916 tại nhà Thái Phiên, Phan Thành Tài lãnh ấn Kinh lược Nam Ngãi, sẽ trực tiếp chỉ huy khởi nghĩa ở Đà Nẵng và đánh chiếm thành tỉnh Quảng Nam. Trong dự kiến sau khi khởi nghĩa thắng lợi ông sẽ giữ chức Tổng Tư lệnh quân đội toàn quốc. Nhiều nhà nghiên cứu sau này vẫn cho rằng “Phan Thành Tài là nhân vật thứ 3 của phong trào chỉ sau Thái Phiên và Trần Cao Vân” (Nguyễn Văn Tùng - Trần Đình Phiên, Phan Thành Tài - người con ưu tú của xứ Quảng – Kỷ yếu Hội thảo 100 năm Khởi nghĩa Việt Nam Quang Phục Hội 1916 - 2016 do Sở VH-TT-DL Quảng Nam thực hiện, 2016 tr.605).

Sách Đại Nam thực lục chính biên, bộ chính sử của nhà Nguyễn chỉ dành 6 điều để nói về cuộc khởi nghĩa này, trong đó 3 điều nói về việc khen thưởng những người “có công” và 3 điều nói về các cuộc khởi nghĩa và những người lãnh đạo trong đó có nhắc đến Phan Thành Tài: “Tỉnh Quảng Nam bắt được đảng giặc Phan Thành Tài, người Điện Bàn, Quảng Nam, đồng đảng của Trần Cao Vân, chiếu án trảm quyết” (Đệ thất kỉ, Cao Tự Thanh dịch, Nxb Văn hóa - văn nghệ, TP.Hồ Chí Minh, năm 2012, tr.84). Điều này nói lên vai trò quan trọng của Phan Thành Tài.

Cuộc khởi nghĩa thất bại, Phan Thành Tài cùng một người bạn dân tộc Cơ Tu là U They trốn lên miền núi ở các làng Alanh, Pache, xã Macooih thuộc Bến Hiên (nay là huyện Đông Giang) sau qua xã Palanh (Cà Dy) thuộc Bến Giằng (nay là huyện Nam Giang). Tại đây ông được đồng bào dân tộc cưu mang.

Không bắt được Phan Thành Tài, Pháp cho vây làng Bảo An gọi hào lý trong làng đe dọa nếu Phan Thành Tài không ra hàng sẽ làm cỏ cả làng. Một hào lý của làng là xã Thăng (lý trưởng làng Bảo An Tây) cử người lên Hiên, Giằng gặp Phan Thành Tài để thông báo lại. Phan Thành Tài bảo: “Chúng dọa thôi, làm gì dám giết cả làng. Làm thế chúng sẽ bị lên án khắp thế giới. Lịch sử sẽ nguyền rủa. Tôi thà bỏ xác tại đây quyết không về!”.

Khi biết ý chí của Phan Thành Tài không lay chuyển, Pháp cho làm cổng gai vây làng, hẹn trong ba ngày Phan Thành Tài không chịu ra hàng sẽ đốt cả làng, xóa sổ bộ làng đem đất làng Bảo An nhập vào các làng khác. Khi được thân tộc lên báo tin này Phan Thành Tài suy nghĩ rất kỹ và quyết định đem thân cho giặc bắt để cứu làng. Ông bảo: “Nếu giặc đã như vậy thì tôi làm tôi chịu”. Mặc dù đang bị sốt rét, Phan Thành Tài cho người cõng ra ghe để về lại Bảo An. Khuya hôm đó về đến làng ông thăm gia đình, sáng hôm sau xuống Vĩnh Điện để nạp mình cứu làng.

Ông bị giam ở Vĩnh Điện, nhận hết trách nhiệm và cương quyết không khai báo gì về tổ chức cho giặc. Ngày 9.5 Bính Thìn (9.6.1916) ông bị hành quyết  (cùng người bạn Cơ Tu là U They) tại một cồn hoang gần chợ Vĩnh Điện. Nhân dân lén chôn ông tại nơi thọ hình (nay gần Nhà Văn hóa thị xã Điện Bàn).

Hai bài thơ tuyệt mệnh

Trong Kỷ yếu Hội thảo 100 năm khởi nghĩa Việt Nam Quang Phục Hội (1916 - 2016), các tác giả Hà Phan, Bá Lương, Đức Long thuộc tộc Phan làng Bảo An trong bài “Chí sĩ Phan Thành Tài - người con ưu tú của gia tộc, quê hương” cho biết trước khi đi nộp mình cho giặc để cứu làng, Phan Thành Tài có để lại 2 bài thơ: một gửi cho đứa con chưa kịp chào đời và một cho các đồng chí của mình.

Bài thứ nhất, gửi con chưa chào đời:

Con còn bụng mẹ cha đã mất
Con bước vào đời nước đã suy
Thù nhà nhục nước con nên biết
Chẳng đội trời chung chữ ấy ghi
Cha muốn gây ra đóa tự do
Máu đem làm nước xác làm tro
Vun cho hoa nở hoa chưa nở
Con hãy vì cha thế mặt lo!

Bài thứ hai, gửi các đồng chí:

Nay nói với anh em lớn nhỏ
Có chịu khó mới nên khôn
Phải lo cho hết việc nước non
Tiến bộ hề tiến bộ
Mau mau theo trái đất lăn tròn
Dặn anh, dặn cháu, dặn con
Còn trời, còn nước, còn non
Nước Nam là nước Nam ta!

(Theo Phan Minh Kế - Phan Sô - Phan Văn Thê trong Phan Tộc kỷ yếu, Nxb Đà Nẵng, 2002, tr.221).

Riêng bài thơ gửi con chưa chào đời, theo các tác giả Hà Phan, Bá Lương và Đức Long trong tác phẩm đã trích dẫn (Kỷ yếu Hội thảo) thì còn lưu lại được là nhờ bà Phan Thị Điện từ nhỏ theo lời dặn của bà nội mình là bà Nguyễn Thị Luyện (vợ ông Phan Khắc Doãn) với nội dung: “Cháu nên nhớ bài thơ để truyền lại cho đời sau nói về sự hy sinh của ông Phan Thành Tài và hoàn cảnh bi thảm của bà Bùi Thị Hậu năm 1916”. Nghe lời bà nội, bà Phan Thị Điện đã thuộc lòng bài thơ và truyền lại cho con cháu tộc Phan Bảo An (tr.631 - 632).

Còn “người con trong bụng mẹ” của bài thơ chính là ông Phan Út, người con út của Phan Thành Tài (Phan Thành Tài có 7 người con, 4 trai, 3 gái). Phan Út sinh vào cuối năm 1916. Khi lớn lên ông đã cùng người anh là Phan Thuyết đi du học tại Pháp, đỗ kỹ sư ngành Hóa học tại Đại học Toulouse và kỹ sư ngành giấy tại Đại học Grenoble. Năm 1948, ông về nước mở trường Tư thục Tân Thanh, Tân Thạnh và Thành Tài tại Sài Gòn. Ông cũng là Hiệu trưởng trường dạy lái xe hơi Tân Thanh và Chủ nhiệm kiêm chủ bút nhật báo Tân Thanh.

Không chỉ Phan Út mà hai người anh của ông đều chọn “nghiệp giáo dục” của gia đình (Thân phụ của Phan Thành Tài là cụ Cử nhân Phan Thành Tích - khoa Mậu Tý, 1888, từng là Giáo thọ phủ Hàm Thuận,  tỉnh Bình Thuận). Con trưởng Phan Thành Tài là Phan Bá Lân từng dạy tại các trường trung học Phan Thanh Giản (Cần Thơ), Huỳnh Khương Ninh (Sài Gòn), là người sáng lập các trường Nam Hưng (Cần Thơ), Chấn Hưng (Sài Gòn), Chấn Thanh (Đà Nẵng); Phan Thuyết con trai thứ 3 là người sáng lập trường Đạt Đức, Tân Thịnh ở Sài Gòn.

Như vậy, cả 3 người con của Phan Thành Tài (một người chết sớm), đã nối tiếp truyền thống cách mạng của cha nhưng theo con đường giáo dục, với tinh thần “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” của phong trào Duy tân, tinh thần mà Phan Thành Tài đã chọn lựa khi làm Hiệu trưởng trường Diên Phong (Phong Thử), ngôi trường lừng lẫy của phong trào Duy tân vào đầu thế kỷ 20!

LÊ THÍ

.
.
.
.
.