Vị thế Cù Lao Chàm trong lịch sử mậu dịch

PHẠM PHƯỚC TỊNH |

Cù Lao Chàm - trước đây có nhiều tên gọi: Ciam pullo, Pulociampello, Tiêm Bích La, Chiêm Bất Lao - là một địa chỉ nổi tiếng trong quá trình giao thương buôn bán của các nước trên Biển Đông và được ghi chép lại qua các tư liệu lịch sử của các học giả trong và ngoài nước.

Cù Lao Chàm nhìn từ trên cao. Ảnh: T.T
Cù Lao Chàm nhìn từ trên cao. Ảnh: T.T

Điểm trung chuyển mậu dịch

Vào cuối thế kỷ 8, trong Quảng Châu thông hải di đao của tác giả Giả Đam thời Đường Trinh Nguyên (785-804) đã mô tả: “Từ Quảng Châu theo đường biển(...) theo hướng tây nam đi ba ngày thì đến núi Chiêm Bất Lao, núi này ở giữa biển, cách nước Hoàn vương hai trăm dặm về phía đông. Lại đi một ngày đến nước Môn Độc. Lại đi một ngày đến nước Cổ Đát. Lại đi nửa ngày thì đến châu Bôn Đà Lãng…”. Đến thế kỷ thứ 10, thư tịch cổ Ả Rập ghi chép: “Tàu từ Hind (Ấn Độ) đến Sanf (Champa) mất 10 ngày. Ở đây có nước ngọt và trầm hương xuất khẩu... Họ dừng lấy nước ngọt ở Sanf-Fulaw, Cham Pulaw (Cù Lao Chàm) rồi định hướng đi đến Sin (Trung Quốc)”. Như vậy ngay từ thế kỷ 8 - 10, Cù Lao Chàm là nơi thuyền buôn của các nước Ba Tư, Ả Rập đến dừng chân để định hướng sang Trung Quốc.

Đến thời kỳ Đại Việt, Đại Nam, Việt Nam (từ thế kỷ 15 trở về sau), Cù Lao Chàm vẫn giữ được vị thế là điểm trung chuyển mậu dịch trên Biển Đông, trong đó đáng kể nhất là cửa Đại Chiêm (nằm bên trong Cù Lao Chàm) - một cửa biển lớn rất thuận lợi cho tàu thuyền ra vào dừng chân, buôn bán. Điều này được Cristophoro Borri ghi lại trong tác phẩm Xứ Đàng Trong năm 1621 như sau: “... Là vì ở ven bờ có nhiều nhánh biển lớn, hải cảng đẹp nhất, nơi tất cả người ngoại quốc đều tới và cũng là nơi có hội chợ danh tiếng chính là hải cảng thuộc tỉnh Quảng Nam. Người ta cập bến bằng hai cửa biển, một gọi là Turon (Đà Nẵng) và một gọi là Pulociampello (Hội An)”.

Đến cuối thế kỷ 17, vị thế của Cù Lao Chàm vẫn được duy trì qua miêu tả của Thiền sư Thích Đại Sán trong cuốn Hải ngoại kỷ sự viết vào năm 1695-1696: “...Qua ngày 27 gần đúng ngọ có người reo lớn lên trên đầu cột (kỳ kìa, núi đó rồi). Cả thuyền reo lên cười mừng nhưng chưa ai thấy gì, mọi người trương mắt chăm chú nhìn, chặp lâu trăm người có một người thấy, lại chặp lâu mười người có một người thấy. Chừng ấy, người coi lái bàn nên vào cửa nào. Thuyền chủ lái buôn muốn vào cửa Hội An để bán hàng cho tiện, tăng chúng muốn vào cửa Thuận Hóa để sớm yết kiến quốc vương… Buôn gió một chặp vào đến vùng núi ấy là Tiêm Bích La (tức Chiêm Bất Lao, Cù Lao Chàm)”.

Cù Lao Chàm không chỉ giữ vai trò giao thương buôn bán, mà nơi đây còn là điểm cứu hộ tàu thuyền gặp nạn trên biển. Vào năm 1687, trong sách Trú Vĩnh Biên của Triều Tiên ghi lại “...24 người dân Tế Châu, Triều Tiên bị đắm thuyền dạt vào Cù Lao Chàm được người dân ở đây cứu giúp, cho nước uống, lương thực và đưa vào đất liền để chờ ngày về nước”. Đến năm 1835, trong tác phẩm Hải Nam tạp trứ của Thái Đình Lan ghi lại sự việc ông cùng thủy thủ đoàn gặp nạn trôi dạt vào Cù Lao Chàm và được người ở đây cứu sống.

Vị thế trọng yếu

 Với vị thế trọng yếu trong giao thương buôn bán, Cù Lao Chàm trở thành nơi nhen nhóm ý đồ chiếm đóng của các nước đặt thương điếm, đặc biệt là người Pháp. Điều này được William Alexander ghi lại trong Họa phẩm về Đàng Trong “… Vì cần có nơi neo tàu khi mùa gió tây nam nên người Pháp càng thêm tha thiết một khi chiếm được đảo Callao (Cù Lao Chàm) thể nào cũng tìm cách chiếm một địa điểm gần đó trên đất liền ở Đàng Trong. Bờ biển nơi đây có rất nhiều sông ngòi có thể đi lại được. Vào mùa bến đỗ phải đến vài trăm thuyền buôn, trọng tải từ bốn mươi đến một trăm năm mươi tấn từ khắp các hải cảng ở Trung Hoa thường ghé xuống Đàng Trong mua hàng, chủ yếu là cau và đường, riêng đường cũng đã đến 40.000 tấn mỗi năm. Họ trả cho hàng này một số ít là sản phẩm của Tàu nhưng chính yếu là bằng bạc”. Chính vị thế trọng yếu này, các triều đại phong kiến Việt Nam đã phái người đến canh giữ để kiểm soát tàu thuyền qua lại, trong bản khai folklore của làng Tân Hiệp năm 1943 cho biết “...Làng chỉ còn 3 tờ phô của 3 đời Chánh Hòa, Vĩnh Thịnh, Cảnh Hưng. Trong 3 tờ ấy cũng giống với nhau, là bắt dân ở trên hòn Cù Lao này phải tuần phòng đêm ngày lưu ý đến các thương thuyền ngoại quốc đến đó”.

Đến thế kỷ 18 - 19, Cù Lao Chàm vẫn duy trì được vai trò tiền tiêu, cột mốc của mình. J. Barrow trong tác phẩm Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà 1792-1793 đã ghi lại “... Một hòn đảo nhỏ có tên là Callao (còn có tên là Pulo Champello, tức Cù Lao Chàm), nằm cách phía nam vịnh Turon chừng 30 dặm… Hòn đảo này hoàn toàn kiểm soát lối ra vào của nhánh chính con sông mà Faifo - trước đây là nơi buôn bán chính của nền ngoại thương - nằm trên đó, hai bên sườn đảo hầu như hoàn toàn không thể tiếp cận được nhưng nó lại nằm đối diện với cửa con sông này”.

Tác giả Phan Huy Chú trong Bản quốc hải trình hợp thai (1833) cũng cho biết: “Đảo Đại Chiêm, tục gọi là Cù Lao Chiêm thuộc Quảng Nam là núi cọc tiêu thứ nhất của hải trình từ cửa biển đi thuyền đến đó chừng hơn một canh giờ. Trên đảo có phường Tân Hiệp, dân cư đông đúc, núi nhiều tổ yến, triều trước giao cho đội Hoàng Sa thu lượm…”. Đến thế kỷ 19, trong tác phẩm Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn mô tả: “Ở cách huyện Diên Phước 68 dặm về phía đông, ngất ngưởng giữa biển gọi là đảo Ngọa Long, cũng gọi là hòn Cù Lao, có tên nữa là Tiêm Bút, tên cổ là Chiêm Bất Lao, làm trấn sơn cho cửa Đại Chiêm”.

Có thể nói, Cù Lao Chàm trước đây đóng vai trò, vị thế quan trọng trong hệ thống giao thương buôn bán của các nước trên Biển Đông, là nơi tạo sự liên kết buôn bán hàng hải nội địa và quốc tế, góp phần quan trọng tạo nên sự phát triển phồn thịnh của đô thị thương cảng Hội An thế kỷ 17-19.

PHẠM PHƯỚC TỊNH