Qua những bước ngoặt...

;
Thứ Năm, 31/08/2006, 22:20 [GMT+7]

Làm báo ở chiến trường Khu 5 vào những năm tháng “Chiến tranh cục bộ” của Mỹ diễn ra cực kỳ ác liệt, chúng tôi thường nhận được chỉ thị của Thường vụ Khu ủy Khu 5 về công tác đấu tranh chống địch trên mặt trận chính trị, tư tưởng. Đặc biệt, nhiều lần, tôi được trực tiếp nghe anh Năm (đồng chí Võ Chí Công, Bí thư Khu ủy- TG) phân tích tình hình địch, ta một cách sâu sắc và chỉ rõ những việc cần làm ngay rất sát thực tiễn, đầy sức thuyết phục, nhất là ở những thời điểm có tính chất bước ngoặt.

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết chúc thọ đồng chí Võ Chí Công.

Còn nhớ, vào giữa tháng 10-1972, khi Hội nghị Pari về Việt Nam gần kết thúc, ta và Mỹ đã đạt được thỏa thuận cơ bản có thể nhanh chóng đi đến ký kết hiệp định hòa bình. Ngày 21-10, Tổng thống Ních-xơn gửi công hàm cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng, hoan nghênh thiện chí của Việt Nam dân chủ cộng hòa. Công hàm nêu rõ : "Văn bản của hiệp định bây giờ có thể xem như đã hoàn thành” và đề ra một thời gian biểu, như sau : "Ngày 24-10-1972 , cố vấn Kít-xinh-giơ (đặc phái viên của Tổng thống Mỹ) sẽ tới Hà Nội và sẽ rời Hà Nội vào ngày 26-10, ngày 31-10 ký hiệp định tại Pari...”. Thế nhưng, đùng một cái, ngày 23-10, Tổng thống Ních-xơn lại thông báo khẩn cấp cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng, rằng Hoa Kỳ đang có khó khăn do nhiều vấn đề kỹ thuật mới xuất hiện. Theo đó, họ đề nghị phía Việt Nam dân chủ cộng hòa có một cuộc gặp nữa với Mỹ ở Pari, và hoãn chuyến đi Hà Nội của Kít-xinh-giơ. Ngày 26-10, Kít-xinh-giơ họp báo, tuyên bố : “Hòa bình đã ở trong tầm tay”, hòng đánh lừa dư luận, gieo ảo tưởng hòa bình sắp đến rồi! Các đài Tiếng nói Hoa Kỳ, BBC của Mỹ và Anh đều nhắc lại điệp khúc “Hòa bình đã ở trong tầm tay, việc ký hiệp định có thể tính từng ngày...”.

Giữa những ngày sôi động ấy, rất nhiều tin tức trái ngược nhau; chúng tôi tình cờ được gặp anh Năm Công trên đường đi giữa núi rừng Trà My, gần cơ quan Khu ủy. Anh dừng chân, bắt tay, hỏi thăm sức khỏe anh em, rồi nói mấy câu: "Kít-xinh-giơ không sang Hà Nội, Mỹ lật lọng muốn chúng ta thương lượng lại những điều đã thỏa thuận để làm vừa lòng Thiệu (Tổng thống Việt Nam cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu - TG). Ních-xơn thi hành chính sách hai mặt, vừa muốn có hiệp định hòa bình để giành phiếu trong cuộc bầu cử tổng thống sắp tới, vừa không muốn từ bỏ Thiệu, cố gắng hà hơi tiếp sức cho Thiệu. Nhất định Mỹ sẽ ném bom lại miền Bắc dữ dội hơn và quân ngụy sẽ tiến công nhiều nơi ở miền Nam hòng vớt vát thất bại để ép ta nhân nhượng; chúng ta phải đánh trả và vạch mặt bịp bợm, lật lọng của Mỹ. Bây giờ, ai ở vị trí nào phải trụ vững vị trí đó, không được để ảo tưởng hòa bình làm lung lay ý chí chiến đấu”. Anh dậm mạnh một chân lên hòn đá, nói tiếp : “Chỉ có tiến công, đánh trả quyết liệt mới buộc được địch ký; không ảo tưởng, hễ mềm chân một chút là địch lấn tới và chúng sẽ không ký”.

Nhà cách mạng lão thành - nguyên
Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công đến dự Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố  Hồ Chí Minh lần thứ VIII.

Quả nhiên, những cuộc họp liên tiếp giữa ta và Mỹ ở Pari trong tháng 11 và đầu tháng 12-1972, kéo dài nhì nhằng không đem lại kết quả gì mới. Đến ngày 26-12, đúng hai tháng sau ngày Kít-xinh-giơ tuyên bố : “Hòa bình đã ở trong tầm tay", không quân Mỹ ném bom ác liệt xuống Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố khác ở miền Bắc, hòng dùng sức mạnh quân sự ép ta. Ta đánh trả quyết liệt, bắn rơi 81 máy bay Mỹ, trong đó có 34 máy bay B52, làm nên một “Điện Biên Phủ trên không” kỳ diệu. Thua đau ở cả miền Bắc và miền Nam, Mỹ buộc phải ký hiệp định Pari vào ngày 27-1-1973.

Hiệp định ký xong, anh Năm triệu tập các đồng chí cán bộ lãnh đạo trong Ban Tuyên huấn Khu ủy vào Văn phòng Khu ủy nghe anh chỉ đạo công tác tư tưởng, tuyên truyền. Anh nói : "Tình hình chiến trường sau hiệp định Pari sẽ rất phức tạp. Chắc chắn địch sẽ không thi hành hiệp định, sẽ tiếp tục chiến tranh, lấn chiếm đất đai, bắn giết đồng bào. Hiệp định có điều khoản rất cụ thể là chấm dứt hoàn toàn chiến sự nhưng ở chiến trường, không có ngày nào quân địch không bắn giết, lấn chiếm...”. Anh dặn dò không nên có ảo tưởng là địch nghiêm chỉnh thi hành hiệp định. Ta đã có kinh nghiệm về hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 rồi. Kẻ địch không bao giờ từ bỏ dã tâm của chúng. Trong công tác tuyên truyền, phải giải thích cặn kẽ hiệp định, nói rõ thắng lợi của hiệp định, đấu tranh đòi thi hành hiệp định, đồng thời không một phút rời tay súng, nêu cao ý chí chiến đấu, đừng để tư tưởng nghỉ xả hơi phát triển trong cán bộ, chiến sĩ. Xả hơi là nguy hiểm. Các đồng chí trong Ban Biên tập tạp chí Văn nghệ quân giải phóng của khu do nhà văn Nguyễn Chí Trung phụ trách rất thấm nhuần lời dạy của anh Năm Công. Cho nên khi làm tờ báo tết đầu năm 1973, sau khi đã có hiệp định các anh cho đăng lại cả Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo và trích đoạn Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi...

Đương nhiên, đây đó ở trong Khu 5 cũng có tư tưởng nghỉ xả hơi, lơ là mất cảnh giác, bị địch đánh phá gây tổn thất cho ta. Địch “cắm cờ”, chiếm được một số nơi, nhất là ở các vùng mới mở ra, vùng tranh chấp, khiến cho một số người ở xa chiến trường, không hiểu tình hình thực tế, hoặc vì động cơ không trong sáng, đã tung tin Khu 5 mất cảnh giác, để mất dân, mất đất... Có người còn lấy việc ta không giữ được Sa Huỳnh (Đức Phổ, Quảng Ngãi) mà ta mới vừa chiếm được khi ký hiệp định, để nói rằng : “Hữu khuynh, quá tin vào việc địch thi hành hiệp định...”. Không giữ được Sa Huỳnh là do tương quan tại chỗ, đâu phải do thiếu ý chí chiến đấu, mất cảnh giác.

Điều mà chúng tôi rất phấn khởi, tin tưởng là do sự chỉ đạo sắc bén, kịp thời của anh Năm Công và Khu ủy nên công tác báo chí, tư tưởng có hiệu quả cao, góp phần vào thắng lợi chung của sự nghiệp kháng chiến, cứu nước.

Giữa năm 1973, sau khi Hiệp định Pari ký được nửa năm, đồng chí Tố Hữu, Bí thư Trung ương Đảng đi công tác vào miền Nam. Anh vào tận Nam Bộ và trở ra Khu 5, Tây Nguyên. Anh ca ngợi Khu 5  là dải đất "vạn ngày có buổi nào yên, cá ăn phải máu chim quên lối vườn/ Con người như dãy Trường Sơn, vững chân bám trụ chẳng sờn óc gan” và đánh giá sự lớn mạnh của Khu 5 : "Dọc ngang thế trận quân hùng là đây".

Sau chiến thắng Buôn Mê Thuột và giải phóng hoàn toàn Tây Nguyên, tôi được nghe một đồng chí cán bộ cao cấp nói : "Địch có thể bỏ Sài Gòn và toàn bộ miền Nam chứ không bỏ Đà Nẵng; chúng sẽ giữ Đà Nẵng như một Gu-an-ta-ma-nô ở Cuba để quấy rối ta lâu dài !". Rất ít người nghĩ rằng có thể giải phóng Đà Nẵng trong tháng 3 hoặc tháng 4 năm 1975. Và cũng có phương án tiến quân vào phía Nam, giải phóng Sài Gòn xong rồi mới giải phóng Đà Nẵng. Chính trong tình hình vô cùng phức tạp ấy, anh Năm Công nhận định : “Địch bỏ chạy khỏi Tây Nguyên, tình thế mới đã xuất hiện”; đồng thời đề nghị cho đánh ngay Đà Nẵng, vì điều kiện có đủ để bảo đảm thắng lợi. Quả thật không dễ dàng gì để đưa ra một quyết đoán như vậy. Được sự đồng ý của bộ chỉ huy tối cao đứng đầu là đồng chí Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lê Duẩn, anh Năm Công đã chỉ đạo chớp thời cơ chuyển hướng ngay ra phía Bắc, đánh thẳng vào Đà Nẵng. Và chiến dịch giải phóng Đà Nẵng đã thắng lợi nhanh chóng, huy hoàng.

Chính trong những hoàn cảnh éo le, tình hình phức tạp, ranh giới giữa thắng lợi và tổn thất khó lường, thì sự quyết đoán, chỉ đạo kịp thời, sâu sắc của đồng chí Bí thư Khu ủy kiêm Chính ủy Quân khu 5 Võ Chí Công đã đem lại thành công hết sức to lớn.

Chúng tôi có ấn tượng rất sâu sắc về anh Năm Công qua những bước ngoặt lớn ở chiến trường Khu 5.

Đặng Minh Phương

.
.
.
.
.