Đội nữ pháo binh ngày ấy

;
Thứ Sáu, 01/09/2006, 12:27 [GMT+7]

Người đàn bà tuổi ngoài ngũ tuần, có nụ cười tươi điềm đạm. Chị là Phạm Thị Bằng, hơn 30 năm trước là pháo thủ của đại đội công pháo, C4 thuộc phiên hiệu 101 của Huyện đội Quế Sơn. 

Ông Lê Nho Phước, nguyên Huyện đội trưởng Huyện đội Quế Sơn lục tìm danh sách của pháo binh C4.

“... Hồi đó tui khỏe như voi, chẳng biết sức mô mà, những lúc cần có thể vác cả đế, nòng và chân một khẩu pháo ngót nghét 50 cân  chạy như bay. Mà không chỉ tui, chị em  C4 cũng y rứa hè...”. Chị bắt đầu câu chuyện như thế, về quãng đời pháo thủ. Tham gia trận đánh đầu tiên  khi vừa 15 tuổi rồi lần lượt trải qua trận đánh Gò Da (Quế Phú), đến trận Cây Thị, Núi Kiến, Cấm Dơi, Nhà Tằm... Ký ức của người pháo thủ năm xưa như một cuốn phim quay chậm, phục dựng lại những trận đánh như trận Phú Thọ, hòn Đèn, dốc Ông Hùng, chợ Đụn, xóm Kiêu, Trảng Cát... Chị say sưa cùng với 2 người đồng đội của mình, ông Nguyễn Ngọc Quế và ông Nguyễn Xuân Hạnh nhớ và mô tả lại từng trận đánh; say sưa đến nỗi quên cả tôi đang chăm chú ngồi nghe. “Anh Quế còn nhớ trận Phú Hương giữa năm bảy ba (1973 - PV) không ? Trời ơi, hồi đó, một nhóm của C4 đang hành quân thì bị địch bất ngờ đến sát rạt bên sườn, bị động nhưng lúc nớ, ý nghĩ duy nhất của anh chị em là phải cứu bộ binh đi phía sau nên chúng tôi nhắm mắt đánh liều, để anh em mình thoát được bao nhiêu thì thoát chớ hổng lẽ dâng mình tới miệng cho địch hắn... thịt. Rứa là xông lên, bị động nhưng vẫn đánh và đánh bình tĩnh hơn bao giờ hết. Áp dụng lối bắn ứng dụng, dùng luôn mấy khẩu cối hạng nặng nhất, bắn cháy chiếc tăng đi đầu của chúng, chúng tháo chạy tán loạn vì tưởng gặp phải bộ đội chủ lực của ta. Thấy chúng bỏ chạy khỏi đường hành quân, mấy anh em cười ngắc ngứ trong họng nhưng cũng... run quá trời” - chị Bằng hào hứng kể.

Vào khoảng năm 1972, tổ du kích nữ xã Sơn Khánh (Quế Sơn) đã bám trụ đánh lui một đại đội địch càn quét vào địa bàn, loại khỏi vòng chiến đấu 3 tên địch. Sau chiến công ấy, nhiều chị xin chuyển sang C4 càng làm cho lực lượng của C4 tinh nhuệ hơn. C4 luôn nhắc nhở nhau, noi gương chiến đấu của "Tiểu đoàn Chị Thao" (tiểu đoàn nữ của Quảng Nam - Đà Nẵng, thuộc Quân khu 5). Chị em ở C4 thường “khích” nhau rằng các chị ở Tiểu đoàn Chị Thao  vận chuyển hàng vạn tấn vũ khí đạn dược, lương thực, thực phẩm phục vụ chiến trường; đưa hàng nghìn thương binh, bệnh binh từ chiến trường về hậu phương, chả lẽ mình không làm được bằng một phần. Thế là khí thế chiến đấu của C4 càng sôi sục hơn bao giờ hết. Cũng nằm trong hoàn cảnh chung của chiến trường, chị em ở C4 đói cơm lạt muối, thiếu quần áo, thuốc men trở thành chuyện bình thường nhưng vẫn bền gan vững chí chịu đựng, quyết làm lực lượng bọc lót kiên cường cho bộ binh Huyện đội Quế Sơn.

Ông Nguyễn Ngọc Quế (phải), người trực tiếp tham gia chỉ huy C4 thời đó.

Hồi đó có khi bị kẹt lại giữa tuyến cả tuần, cả ngày rúc hầm trú ẩn, giao thông hào, nhịn đói, sang hơn là được ngày bữa cháo, rứa mà các chị vẫn cười hát luôn miệng, mười lăm mười sáu tuổi mà cõng gồ nhẹ như không, ai cũng to, ai cũng khỏe. Mới đây, C4 của 101 mới có dịp gặp mặt những người thời ấy. Gặp lại ai cũng già, có người hom hem nữa, chẳng còn nhận ra ai, chỉ khi gọi tên mới nhớ được, ai cũng nước mắt chảy dài. Danh bộ "Huyện đội bộ + công pháo" được lưu giữ tại nhà riêng ông Lê Nho Phước, nguyên Huyện đội trưởng Huyện đội Quế Sơn là quyển sổ cũ, giấy đen và bị gián nhấm mất phần ba nhưng vẫn còn lưu giữ gần như đầy đủ danh tính của đội nữ pháo binh. Trong Danh bộ, ông Nguyễn Ngọc Quế, nguyên Huyện đội phó Huyện đội Quế Sơn là người trực tiếp chỉ huy đội nữ pháo binh; ổn định, củng cố lại trung đội sau Tết Mậu Thân 1968 cho đến khi thành lập đại đội, lúc đội nữ pháo binh hoạt động độc lập cũng như lúc sáp nhập.

Đội nữ pháo binh nguyên là một trung đội độc lập thành lập trong chiến dịch Mậu Thân. Đến năm 1971 thì trung đội này được củng cố, bổ sung để thành lập một đại đội pháo binh vừa phối hợp tác chiến với bộ binh, vừa độc lập tác chiến theo yêu cầu của từng chiến dịch, từng trận đánh cụ thể do Ban Chỉ huy Quân sự huyện, ban cán sự chỉ huy. Trừ chỉ huy, lực lượng chủ yếu là nữ (khoảng 80%), điều động từ du kích xã lên gồm các chị không ngại gian khổ, không ngại hy sinh. Với lối bắn cầm canh, kiểu đánh bất ngờ nhưng dai dẳng, bất kể ngày đêm đại đội đã làm cho địch khắp vùng đông Quế Sơn kinh hoàng, mất ăn mất ngủ. Chị em đa phần đều còn rất trẻ, tuổi 15-20, người giỏi nhất cũng chỉ biết đọc, biết viết nhưng khi xung phong ghi danh vào đại đội công pháo, công việc đọc pháo, lấy phần tử bắn lại rất chính xác. Kể cả khi địch phản pháo, chị em cũng rất bình tĩnh xử lý tình huống. Trong vòng 7 năm kể từ khi thành lập, đại đội đã hỗ trợ cho bộ binh đánh hơn 50 trận lớn nhỏ, và có 20 đồng chí hy sinh và bị thương.

Tháng 8-1975, Huyện đội Quế Sơn thu gọn lại đại đội công pháo, theo chủ trương cấp trên, cho xuất ngũ gần như toàn bộ quân số của C4, một số điều động về Quân khu 5, quản lý bảo vệ trại tù binh ở Kỳ Sơn (Tam Kỳ), số khác là những cán bộ chủ chốt của đội được điều động đi học, bồi dưỡng để tăng cường cho Tây Nguyên. Thời điểm đó, ra quân ào ạt, cũng chẳng ai có một giấy tờ gì liên quan khi xuất ngũ từ C4/101, ngoài việc được nhận trợ cấp 6 tháng ăn lúc xuất ngũ. Ra quân, quay lại với cuộc sống đời thường, không ai còn dịp thảnh thơi để nghĩ về một thời oanh liệt ở C4 bởi đơn giản, hầu hết cuộc sống của họ 30 năm sau chiến tranh vẫn còn rất nhiều khó khăn...

Phan Hoàng

.
.
.
.
.