Một lần...đỡ đẻ

;
Thứ Ba, 24/10/2006, 09:52 [GMT+7]

Năm 1965, Lê  Văn Đình  thoát ly theo cách  mạng.  Năm ấy ông vừa tròn 19 tuổi. Sau vài tháng "lên núi" ông được điều về Ban An ninh Quảng Nam. Ngày 16-7-1967 tổ chức  phân công ông về phòng P2 (chống gián điệp), đây là năm Lê Văn Đình được kết nạp Đảng. Ông  kể : Từ khi thoát ly đến khi chuẩn bị kết nạp Đảng chính thức chưa lần nào ông tham gia một trận đánh ... cho ra hồn. Gần 2 năm ở Ban An ninh tỉnh, hết huấn luyện nghiệp vụ đến bảo vệ các cuộc họp Tỉnh ủy và các đồng chí lãnh đạo cấp trên,  ông vẫn chưa thực sự đối mặt với kẻ thù. Cuối tháng 12-1967 ông chính thức nhận nhiệm vụ quan trọng đầu tiên. Đây cũng là một thử thách trước khi ông vào Đảng chính thức. Nhiệm vụ của ông là tìm diệt 1 tên chiêu hồi nhiều nợ máu ở vùng Duy Nghĩa, huyện Duy Xuyên. Vì tên này mà nhiều cơ sở ta bị lộ, cán bộ nằm vùng rơi vào tay giặc gây tổn thất rất lớn cho cách mạng. Xác định  đây là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng nên ông đề xuất ý kiến với 2 đồng chí lãnh đạo ban an ninh cùng đi : Nhiệm vụ càng đặc biệt bao nhiêu thì tính bí mật càng phải đặt lên hàng đầu bấy nhiêu. Ông là người thông thuộc địa hình vùng cát  này, giao việc cho mình ông thực hiện sẽ vừa bảo đảm bí mật, nếu việc không thành thì chỉ mình ông gặp rủi ro. Như thế bảo toàn được tính mệnh của các đồng chí lãnh đạo ban an ninh. Đề xuất của ông được chấp thuận. Song, để hỗ trợ cho ông, 2 đồng chí lãnh đạo quyết định về nằm tại cơ sở cách mạng ở Bình Dương để vừa theo dõi, chỉ đạo phương án tác chiến và hỗ trợ kịp thời khi gặp tình huống xấu có thể xảy ra.

Đêm trước hôm vào trận, Lê Văn Đình kiểm tra súng, lên đạn cẩn thận, rồi rút dao găm cầm tay nhằm hướng Bình Đào thẳng tiến. Dù đây là nơi ông từng đi qua, nhưng vì đêm tối, vùng nay bom đạn cày xới nát bươm nên ông cũng không thể nhận ra lối đi xưa. Theo kinh nghiệm của cư dân vạn chài, ông men theo bờ sông mà đi. Đi men theo bờ sông, nếu gặp xóm ghe thì dễ dàng vượt sông an toàn. Hơn nữa, kẻ địch ít khi phục kích. “Chúng có phục kích bất ngờ, mình sẽ lao xuống sông. Mình như con rái cá vùng sông nước này, bọn chúng làm gì được mình ?" - vừa đi ông vừa nghĩ như thế. Đi chừng nửa tiếng đồng hồ chợt nghe tiếng súng nổ ở phía trên sông, cách chỗ ông vài trăm mét. Nghe súng nổ, ông giật thót : "Hay là mình đã bị lộ ? Các đồng chí lãnh đạo ban có mệnh hệ gì không?". Sau vài loạt súng, màn đem trở lại vẻ tĩnh lặng đen rợn người. Mưa đã  ngưng nhưng gió vẫn còn thông thốc thổi. Vài tiếng chim ăn đêm kêu hoảng bay lên. Ông biết ở gần đây có người nhưng không hiểu đó là ai. Những loạt súng ban nãy chỉ là tiếng súng bắn hú họa của bọn giặc chứ  chẳng  có chuyện gì xảy ra. Chiếc đồng hồ không có mắt kính dễ dàng cho ông xác định thời gian bắt đầu  chuyển sang một ngày mới. "Bằng mọi cách mình phải về Bình Dương trước khi trời rạng sáng". Nghĩ vậy nên ông quyết định đi tiếp. 

Lúc vượt qua một nổng cát lúp xúp xương rồng và dây muống biển, ông nghe tiếng người rên. Ngồi thụp xuống lắng tai nghe, ông đoán là tiếng rên của một phụ nữ. Đề phòng có thể bọn Mỹ hoặc bọn ác ôn giăng bẫy nên ông thận trọng rút súng ngắn cầm tay nhích từng bước về nơi có tiếng người rên. Chợt có tiếng kêu xé ruột. Không còn nghe ai rên nữa. Thay vào đó là tiếng trẻ khóc "oe... oe". Đến nơi, ông mới biết đó là một sản phụ đẻ rớt. Chẳng có chút kiến thức gì về đỡ để nhưng ông vẫn làm như bản năng con người ứng vào tình huống nào đó buộc phải  làm. Trước tiên, ông dùng mảnh vải dù trải ra lau đứa bé rồi dùng dao cắt rốn. Xong, ông lấy áo lót của mình cuốn lại ủ ấm cho nó. Sau vài phút ngủ thiếp đi  mệt và lạnh sản phụ kia tỉnh lại. Chị ta vô cùng ngạc nhiên khi có người lạ giữa đêm tối ở bãi  vắng này giúp mẹ con chị. Chị cố gượng dậy hỏi : “Anh là... Con tôi là gái hay trai...?". "Chị còn mệt thì cứ nằm nghỉ. Con chị tôi đã cắt rốn rồi. Nó là con trai". Vừa nói ông vừa ôm đứa trẻ đặt vào lòng mẹ nó. Sản phụ nói : "Đêm nay  tôi đi gỡ câu. Nửa chừng chuyển bụng... Anh ở đâu để có ngày mẹ con tôi...". Chặp nữa về nhà chị sẽ biết. Giờ chị lấy áo quần của tôi mà mặc cho đỡ lạnh - cởi vội bộ đồ đang mặc trên người đưa cho sản phu, ông nói - Chị mặc áo quần nhanh lên. Tôi ra coi ghe để đâu để chở chị  về”. “Anh chờ cho chút nữa. Tôi... tôi đẻ rồi mà... chưa thấy nhau ra...". Nếu người phụ nữ không nói thì ông cũng quên mất. Lúc ấy bụng dưới của chị bắt đầu căng lên đau tức không chịu nổi. Loay hoay mãi, cuối cùng ông vun cát đặt dưới lưng sản phụ, bảo chị lấy sức rặn... ông thở phào khi nhau thai bọc đứa trẻ trước khi sinh cuối cùng cũng chịu ra.

Nhấp ngụm nước trà, ông Ba Đình nói : "Không hiểu sao lúc ấy tôi làm được như thế. Mà thôi, để tôi kể tiếp câu chuyện cho anh nghe nhé". Ông tiếp tuc : Đưa sản phụ về tới nhà thì trời cũng gần sáng. Cả nhà biết chuyện tôi đỡ đẻ cho chị nên xem như là ân nhân. Tôi nói thật  với những người trong nhà, tôi là cán bộ cách mạng. Trên đường đi công tác gặp hoàn cảnh như thế không thể không cứu giúp. Biết ở trong nhà có thể liên lụy đến  gia đình, nên tôi đề nghị bố  trí cho một chỗ để trú ẩn vì lúc ấy trời sắp sáng, không còn cách nào hơn. Lường trước tình huống xấu nên tôi nói với chồng của chị kia rằng : Giờ thì tôi không thể về tới Bình Dương được. Muốn lãnh thưởng anh cứ đi báo cho bọn ngụy quyền... Nghe tôi nói vậy, anh ta gần như muốn khóc. Anh lấy áo quần của anh cho tôi thay.  Trước khi vào nhà, tôi cũng kịp vùi những khẩu súng bên gốc dương ngoài ngõ. Nhưng bộ đồ sản phụ kia đang mặc thì không thể  giấu vào đâu. Tôi dặn gia đình cứ cất kỹ, 2 ngày  nữa mà tôi không về lấy thì nên đốt đi. Sau khi ăn tô cháo gà do gia đình nấu, tôi theo chồng chị ra ngủ ở chòi canh rớ. Thực ra thì tôi không tài nào chợp mắt nhưng anh ta vẫn thức để canh cho tôi “ngủ”. Cả ngày hôm ấy, tôi  ở  ngoài chòi canh rớ nhưng thấy  rất an toàn. Chẳng có ai dòm ngó gì vào chòi.

Khoảng 7 giờ tối, tôi tạm biệt gia đình nói về thăm mẹ  ở  Bình Dương. Chồng của sản phụ kia lấy  ghe chở tôi đi. Tôi không còn lo nữa vì biết gia đình  anh không thể “ban”  tôi cho giặc. Trước khi tạm biệt,  anh hỏi tôi nơi ở tên họ nhưng tôi bảo đó là điều bí mật, không thể nói. Ngay cả chuyện tôi đỡ đẻ cho vợ anh thì gia đình cũng đừng nói cho bất cứ ai nghe để khỏi bị liên lụy... Nhờ cơ sở dẫn đường nên đêm hôm ấy tôi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ diệt tên chiêu hồi ác  ôn. Xong nhiệm vụ, tôi  ghé về thăm gia đình ở  vạn ghe - Cây  Mộc. Sau đó,  quay lại lấy súng nhưng không vào nhà lấy áo quần như đa nói, rồi đến điểm hẹn để cùng 2 đồng chí lãnh đạo rút về Tam Kỳ. Nghe tôi báo cáo kết quả nhiệm vụ,  các anh chưa tin lắm. Bọn địch cũng không tổ chức lùng sục bắt bớ. Chúng không dám công khai thông tin vì sợ những tên  chỉ điểm, ác ôn có nợ máu với nhà  dân run sợ. Đến khi có thông tin từ cơ sở  của ta báo về thì Ban An ninh tỉnh mới chính thức kết nạp Đảng cho tôi. 

Chuyến đi  vùng cát thực hiện nhiệm vụ  là lần duy nhất tôi về  thăm nhà cho đến khi giải phóng. Về mới biết chiến tranh gây cho  gia đình tôi mất mát nhiều quá. Cả  làng chài Cây Mộc và cả Bình Dương không nhà nào không có  người thân  đổ máu vì đạn bom của kẻ thù. Chiến tranh là như thế...". “Sau này bác có khi nào gặp lại gia  đình người phụ nữ ấy không ?" -  tôi hỏi. "Cho đến bây giờ tôi đã nhiều lần đến thôn 3 Bình Đào để  hỏi thăm nhưng không gặp được. Có  thể gia đình đã dời đi nơi khác hay đã chết vì chiến tranh. Tôi muốn gặp xem thử cậu bé kia giờ  thế nào, đã có mấy cháu rồi. Hồi  đó do công việc bí mật nên tôi không nói rõ tên và địa chỉ. Cả gia  đình chắc cũng không dám nói  chuyện này  với ai. Chính vì thế mà  giờ đây đi tìm rất khó. Nếu anh có  viết đăng báo thì giúp tôi lời nhắn : gia đình chị kia có còn ai,  bây giờ  ở  đâu nói tôi biết để tôi đến thăm...". 

Bác Ba kể cho tôi nghe nhiều  chuyện. Nào chuyện ông đã từng cứu một tên tù binh thoát chết đuối, nhưng cũng lạnh lùng... nã vài phát đạn vào đầu tên quốc dân đảng khi nó lợi dụng việc chiếc ghe đưa tù binh qua sông bị chìm để trốn thoát. “Tên tù binh được ông cứu giờ làm nghề thợ rèn ở thôn 3 Bình Dương. Mỗi lần đến thăm ông, anh đem biếu khi thì cái liềm, lúc thì lưỡi cuốc. Anh đem đến thì ông nhận. Ông bảo đó là cái tình cái nghĩa của người ta, mình không nhận không được...

Ghi chép của Lê Phước Trịnh

.
.
.
.
.