Người đội trưởng anh hùng

;
Thứ Ba, 24/10/2006, 06:11 [GMT+7]

Đồn Phước Trạch có 46 tên lính partisan (thân binh, việt binh đoàn) đa số là người miền Nam, có 6 tên lính Pháp do sếp  Vững - quan hai chỉ huy.  Từ ngày có đồn lính, người dân vùng Cửa Đại chịu nhiều đau thương tang tóc. Chúng khủng bố tàn bạo, lùng sục, bắt bớ, hãm hiếp, đốt nhà vây ráp lùng bắt cán bộ, xăm hầm, hơn 30 người dân ở An Bàng - Phước Trạch là nạn nhân của chúng. Chúng gom dân để dễ bề kiểm soát, lập ra hội đồng hương chính, tập hợp những tên cường hào ác bá, có nợ máu với nhân dân, trong đó có tên Sum. Trước tình hình đó, Thị ủy Hội An chủ trương thành lập và đưa đội tự vệ, thanh niên cứu quốc vào bám dân, bảo vệ dân, có điều kiện là tổ chức đánh địch, thu súng, trang bị cho du kích tự vệ cứu quốc.

Theo lời kể của ông Lê Nà, gia đình ông có 3 anh em trai làm nghề biển nhưng chỉ có một cái thúng chai, anh em phải “đi bạn” với các chủ ghe.  Anh Lập con cả đi bạn với các ghe lớn, thường vào Nam đánh cá 3-4 tháng mới về một lần. Anh Lập có gia đình ở Phan Thiết. Đầu năm 1946, anh về quê  nói với cha : “Không thể để bọn Pháp làm mưa làm gió mãi được, chắc con phải tìm cách đánh lại chúng”. Cha anh thở ra rồi nói : “Đánh cách chi ?”. “Phải tìm cách chứ cha !”... Sau đó, Lê Lập tập hợp bạn bè, anh em trong làng thành lập đội thanh niên cứu quốc, thuộc khu 7 (Cẩm An ngày nay).

Đội có 7 người, Lê Lập làm đội trưởng, Nguyễn Lạp làm đội phó. 7 người nhưng chẳng ai có súng, chỉ tự trang bị mã tấu, dao găm, gậy vót nhọn...

Lê Lập nói với anh em trong đội : “Không có súng  không đánh được thằng Tây” và trong anh luôn nung nấu ý nghĩ là làm sao có súng cho anh em.  Đội tự vệ mới manh nha, nhưng hằng đêm tập trung học võ, học cách đánh địch, luyện tập các động tác tiếp cận địch. Anh em trong đội tự vệ thường thấp thoáng trong rừng dương, anh xã trưởng Sum phát hiện và báo với sếp Vững “Có một đội du kích ở An Bàng”. Đội tổ chức đi phá đường, chặt cây ngã ra đường, không cho xe địch cơ động từ Phước Trạch lên Hội An.

Ban đêm anh em phá đường, ban ngày  địch bắt dân lấp đường, Lập bèn nghĩ cách : đặt mìn diệt xe. Anh em trong đội đi tìm những quả đạn 105 thôi, cải tạo, gài kíp  đem đặt giữa đường, nối sợi dây điện thoại dẫn vào nơi ẩn nấp. Khi xe Pháp đến giật nổ, xe cháy địch chết, anh em vọt ra lấy súng. Lần sau, chúng đi, có lính tuần đường, Lê Lập cùng anh em tìm mọi cách quấy phá địch.

Bọn lính từ đồn Phước Trạch lên An Bàng tuần tiễu, Lê Lập theo dõi, nắm được quy luật của chúng bèn nghĩ ra cách  phục kích nhưng địa thế Cẩm An khó quá, từ An Bàng xuống Phước Trạch giống như cái lá lúa, bên ngoài thì biển, bên trong sông, rừng dương không đủ sức che chở cho anh em, khó tránh tổn thất. Cuối cùng, anh nói với Nguyễn Lập : "Phải mạo hiểm thôi". Chọn nơi mật  phục không xa đồn  Phước Trạch nhưng có thế  rút lui,  Lê Lập phát hiện bọn tuần, lúc đi  chúng rất khí  thế,  cảnh giác  nhưng khi trở về, thường chủ quan ngồi nghỉ  ở cạnh đường gần bờ sông. Anh đưa quân vùi dưới cát, gác đầu lên gốc  dương nằm  chờ. Đúng như  dự kiến, chiều về,  bọn chúng đến gò dương , ngồi  nghỉ. Bất thần, Lê  Lập hô “xung  phong". Anh em đội đất lên, mã  tấu vung sáng lóe; chém mạnh  xuống vai những tên đứng gần.

Thu được hai khẩu súng, thấy bọn lính  chạy xa tầm tác chiến, Lê  Lập hô anh em nhảy xuống sống, lặn qua bờ bên kia. Thế là cả ba đội có 3 cây súng và 16 viên đạn...

Tháng 5-1947, đồng chí  Nguyễn Nho - Chủ tịch UBND  Cách mạng Khu 7 giao nhiệm vụ cho đội cùng hai đội du kích trong toàn khu đánh đồn Phước Trạch. Trận đánh diễn ra không cân sức, giặc trong đồn phản kích mạnh, anh em phải rút. Lê Lập trụ lại giữ chân địch, bị bọn chúng bắt.

Ông Lê Trung Thạch kể : Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, tôi về quê nghe Nguyễn Nề - em vợ của anh Lập là lính partisan lúc đó đóng ở đồn Phước Trạch  nói lại :

Tên Vững cho lính còng tay còng chân anh Lập, dùng báng súng đánh vào đầu,  vào bụng, dùng tay đánh vào mặt, anh Lập ngã xuống đất, chúng dùng giày đinh đạp lên,  vừa đạp vừa hỏi : Ai là chỉ huy mày ? Bọn Việt Minh Cộng sản ở đâu  ?... Anh chỉ trả lời: "Tôi không biết". Ngày thứ  hai, thứ ba cũng thế, khi tên Sum trực tiếp hỏi cung, anh Lập chửi vào mặt hắn là : “Đồ bán nước". Tên Sum dìm đầu anh Lập vào thùng nước cho ngạt thở, trói chéo tay sau lưng treo lên xà nhà, bên dưới, hắn để ngọn đèn dầu dưới hậu môn... Ngày thứ tư, thứ năm, hắn tẩm xăng  vào giấy đốt dương vật anh Lập. Anh ngất. Thấy anh rể bị hành hạ mà không có cách chi cứu,  không khéo bị vạ lây, bỏ vợ, bỏ con, nên anh Nề thường xung phong đi gác. Mỗi lần như thế, anh tìm cách nhét thuốc bổ vào mồm anh, bón cho anh miếng cơm, miếng thịt... Đến ngày thứ 7, chúng đổ than nóng vào thùng đại liên đặt lên  người anh, đặt đến đâu, da thịt cháy đến đó, khét  lẹt, tay chân anh mưng mủ, nứt nẻ, mắt sưng, tóc cháy hết. Chúng dụ anh khai, trước sau anh chỉ nói : “Tôi làm tôi chịu ngoài ra không biết chi hết". Ngày thứ 10,  người anh Lập như một cục than, anh kiệt sức, đứng không vững. Hơn 10 ngày khai thác, chúng không  nhận được một lời khai nào, bất lực,  chúng dở thủ đoạn khác xử tử chúng mời dân chúng để  thị uy. 

Buổi sáng ngày 19-5-1947, chúng kéo lê anh trên cát giữa hai hàng lính, tiến về Lăng Ông. Tên Sum huy  động tay  chân cùng lính lùa dân trong làng đi, hơn 200 người : bà già, trẻ em đứng quanh khu vực chúng quy định, bọn lính đặt đầu anh  trên một cục đá lớn. Bên cạnh, có tên lính ở trần đầu chít khăn điều, thắt lưng điều tay cầm cây mã tấu. Tên Vững quy tội cho anh là Việt Minh Cộng sản chống lại chính quyền, tử hình.  Tên Sum nói, dọa nhưng chẳng ai nghe, cuối cùng, tên Vững hô : “tử hình". Tên đao phủ giơ cao cây mã tấu chém xuống...

  Vợ và con anh Lập bặt tin nhiều năm. Anh Lê Trung Thạch làm chế độ cho anh, cơ quan thương binh xã hội nói : "Phải là vợ con anh Lập đứng ra làm". Đợi mãi cũng sốt ruột, Đảng ủy, ủy ban, mặt trận xã quyết định xây mộ cho anh Lập. Hằng năm, đến ngày 27-7, tết, đều khắp hương tưởng nhớ. Đến năm 2001, khi Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có chủ trương mới thì tộc Lê đứng ra làm hồ sơ, cũng là lúc chính quyền thi công con đường Thanh niên đi qua ngôi mộ anh. Vậy là chính quyền quy tập anh về nghĩa trang liệt sĩ  xã... cũng là lúc Thủ tướng ký bằng Tổ quốc ghi công...

Vậy là sau 54 năm, liệt sĩ Lê Lập mới được công nhận. Nhưng ngay sau khi anh hy sinh, quân và dân Cẩm An đã coi anh là niềm tự hào của địa phương, coi anh là anh hùng, luôn được nêu tên trong các ngày truyền thống của đất nước và địa phương.

Cao Kim

.
.
.
.
.