Vượt ngục ở nhà lao Hội An

;
Thứ Ba, 24/10/2006, 10:08 [GMT+7]

Là cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc, đầu năm 1962, tôi được cử  vào Thường Tín, Hà Tây học tập 2 tháng rưỡi (cả về chính trị, quân sự) để chuẩn bị vào Nam. Sau gần 2 tháng vượt đường Trường Sơn, đến ngày 20-4-1962 tôi về đến căn cứ  Quảng Nam. Lúc này, anh Nguyễn  Tất Thắng, cán bộ Ban Tổ   chức Tỉnh ủy  đã phổ biến cho tôi tình hình miền Nam và kinh nghiệm trong phong trào Đồng khởi  ở  Bến Tre. Sau đó tôi được phân công về đứng chân  ở  xã Kỳ Tân (tức Điện Hồng bấy giờ). Ngày 25-4-1962, Huyện ủy Điện Bàn phân công anh Trần Kiên về vùng A họp cán bộ chủ chốt  ở cơ sở để tìm  cách đánh vào cơ quan xã Kỳ Tân với  mục đích chính là phải bắt cho được tên xã trưởng và tên cảnh cát trưởng,  14 giờ chiều cùng ngày, ta ém 3 chiến sĩ vũ trang  ở  nhà bà Sang cách cơ quan xã Kỳ  Tân 50 mét. Một giờ sau,  du kích nổ súng giữa lúc bọn tề xã  đang họp với nhóm thanh niên cộng hòa. Kết thúc trận đánh, ta bắt được 4  tên ấp trưởng,  một số thanh niên cộng hòa, còn tên xã trưởng và tên cảnh sát trưởng thì bỏ chạy. Ngay tối hôm đó, mặt trận xã tổ  chức họp dân buộc các tên bị bắt làm cam đoan không làm tay sai cho địch nữa  mới được thả về. Tại buổi mít tinh, tôi được anh Trần Kiên phân công phổ biến trước dân về cương lĩnh Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam để dân hiểu và góp sức cùng với mặt trận đấu tranh giải phóng quê hương.

Hai ngày sau, bọn địch tổ chức truy lùng ráo riết. Khắp nơi trong xã đều nghe tiếng súng nổ. Do chưa đào được hầm bí mật nên ban  ngày, anh Trần Kiên né tránh  ở  xóm vạn ghe, tối mới lên hoạt động. Còn tôi  thì  ở  thôn  Túy La,  tạm lánh địch tại nhà bà Giáo,  bà Xứng. Hai hôm sau, tôi tìm cách đào một cái hầm bí mật để tiếp tục hoạt động. Không ngờ vào sáng 1-5-1962, một,  cậu bé trong lúc lùa  trâu đi ăn cỏ,  tình cờ phát hiện có một cái hầm bí mật đang có người rúc lên. Cậu bé hoảng sợ bỏ trâu chạy về báo với tên thôn trưởng  Túy La.

Nhận được tin, bọn hội đồng hương chính xã Kỳ Tân xông tới,  ném lựu đạn tới tấp về phía hầm bí mật của tôi. Không nao núng, tôi vượt hầm chạy thẳng lên hướng tây rồi  quay lại, chạy qua Đồng  Trại. Bọn địch rượt đuổi. Không ngờ lúc ấy,  một chiếc máy bay L19 của địch phát hiện, quần lượn 2 vòng. Tôi rúc vào hàng tre,  hàng chuối trong xóm, rồi tháo lui chạy ra hướng Bàu Nước. Khi thấy 5 tên dân vệ đang bao vây mình,  tôi tội rút kíp no quả lựu đạn mang theo  nhắm hướng bọn nó quăng tới, nhưng lựu đạn không nổ vì thế tôi mới bị  địch bắt vào chiều hôm đó (1-5-1962).

Bọn địch còng tay tôi và dẫn về Ái Nghĩa giam giữ,  tra tấn suốt cả đêm. Sáng hôm sau, bọn nó bịt mắt và đưa tôi ra Sơn Trà (Đà Nẵng) giam  1 tháng,  rồi chuyển tiếp về nhà lao Hội An.

Vào  nhà tù bọn địch hết tra tấn rồi lại dụ dỗ, nhưng tôi quyết không hé răng khai báo. Những người trong tù lúc ấy cùng  ở  với tôi có Tiên (cháu gọi tôi bằng  cậu), Ký,   Thông, Đợi, Trọng, 6 anh em bị nhốt  vào 6 phòng giam. Mỗi phòng giam tựa như một cái vòm, trên trần là bê tông,  tường xây gạch. Cửa ra vào có khoét một cái lỗ. Khi tù nhân ngủ,  bọn giám thị buộc bỏ  một cái chân qua các lỗ ấy đưa ra ngoài cùm lại và răn đe : "Bọn bay muốn vượt ngục thì chặt một cái chân để lại rồi đi". Đêm đêm, địch đi tuần tra thấy có cái chân là chắc chắn có tù nhân bên trong. Bị cùm một chân,  nên  không đêm nào 6 anh em tôi tròn giấc ngủ. "Trong cái khó ló cái khôn”. Lúc    ra ngoài tắm rửa, đi vệ sinh, bọn tôi mới rủ  nhau bàn bạc kế hoạch làn chân giả để lừa bọn giám thị : Thế là sau mỗi bữa ăn, bọn tôi để   lại một chiếc đũa; vải bố lau nền xà lim không vứt bỏ,  mà được giữ lại để quấn với đũa rồi xé quần cũ quấn bên ngoài  làm chân giả. Do ban ngày chúng tôi được đi lại tự do trong xà lim,  nên lợi dụng lúc trưa vắng,  bọn giám thị,  trật tự đi ngủ, tôi thò tay ra ngoài lỗ cửa quan sát cái cùm mỏ vịt để  tìm kế  mở cùm.

Khi đi ra ngoài, bọn tôi  đo từ mỏ vị  của cùm đến cổ chân và đỡ   mỏ vịt lên xem phát  hiện ra cách mở cùm. Sử dụng một đoạn thép uốn cong, đỡ mỏ vịt lên, đẩy dây thép vào miệng  cùm,  mỏ vịt bật ra... Thế là  ý  định vượt ngục bắt đầu từ đấy.


Cạnh xà lim có một cái giếng nước ngày ngày có một người (thuộc đối tượng tốt) ra vào gánh nước đổ  vào  cho tù nhân tắm rửa. Anh em nhờ họ kiếm giúp 2 khúc sắt phi 10 bỏ vào  thùng nước gánh vào trại giam rồi bí mật  trao   cho anh em tù. Có  được 2  khúc sắt, chúng tôi chuyền cho nhau cạy  tường. Cũng may là bờ tường phòng giam xây  bằng vôi nên cạy đến đâu là mạch hồ  rớt đến đấy. Sáu anh em cứ âm thầm mỗi người phá thủng
một bờ xông,  rồi tìm hướng  bò ra. 

Nhưng ra hướng nào để tránh sự phát hiện của lính gác ? Lúc đầu chúng tôi dự định phá hệ thống điện nhưng sợ bị lộ. Một kế hoạch mới đưa ra là lợi dụng lúc bọn trại giam tổ chức văn nghệ,  thì trong tù đồng loạt đục đường. Tiếng hát,  tiếng ca phát ra từ  chiếc loa phóng thanh rất lớn nên đục phòng giam không ai nghe được. Văn nghệ xong,  bọn lính mệt mỏi đi ngủ, còn anh em tôi thì lén bò ra ngoài  và cả 6 người vượt ngục ra ngoài  nhà lao vào lúc 3 giờ sáng ngày 17-1-1964.

Sau khi vượt qua được các lớp hàng rào nhà lao Hội An, 6 anh em chúng tôi men theo đường đồng ra xóm. Khi phát hiện có một thửa ruộng   lớn cỏ mọc um tùm, bốn phía bờ có đụn cát mọc đủ loại cây. Tôi và các anh Thông, Đợi, Trọng  vào tìm chỗ núp, vì lúc này trời đã gần sáng. Còn Tiên, Ký thì núp vào một lùm cỏ trong  lòng một con mương thủy lợi nhằm đợi đến tối  đi tiếp. Cuộc vượt ngục tưởng đâu như thế là  trót lọt, nào ngờ đến 14 giờ chiều, người trong  xóm thả bò ra bờ mương, phát hiện 2 người đang  núp dưới bờ cỏ nên hốt hoảng bỏ chạy. 

Thấy vậy, bọn dân vệ trong xóm đánh mỏ  báo động inh ỏi. Tiên và Ký vì bị lộ nên thoát  chạy. Chạy được 2 cây số trên đồi cát, vì bị  đạp gai, và mảnh chai nên cả 2 người kiệt sức. Bọn địch rượt đuổi theo, bao vây bốn hướng và  bắt được Tiên, Ký tống vào giam tiếp ở nhà lao Hội An.

 Bấy giờ, 4 người chúng tôi nhờ ngồi trong  đụn cát không bị lộ, nên tiếp tục thu mình chờ  tới tối tìm đường đi tiếp. Và qua 6 ngày nhịn  đói đi bộ, 4 anh em chúng tôi mới thoát thân  an toàn. Tôi tìm cách trở về lại làng Kỳ Tân.

 Cuộc vượt ngục thành công, tôi được đội  công tác của huyện đưa về căn cứ ở Ô Rây, rồi  quay về xã làm đội trưởng đội công tác lãnh  đạo quần chúng phá kèm  và tiến đến giải phóng  xã Kỳ Tân vào cuối tháng 11 năm 1964. Bây giờ, đã chín mươi mốt tuổi đời, năm  mươi  lăm năm tuổi Đảng, nhưng với tôi những  ngày tháng sống và chiến đấu, nhất là những  hình ảnh về cuộc vượt ngục ở nhà lao Hội An  năm ấy mãi mãi là kỷ niệm không bao giờ quên.

Phạm Nên (ghi)

.
.
.
.
.