Tiếng đàn cò trên thuyền rớ ông Đô

;
Thứ Hai, 24/10/2016, 09:06 [GMT+7]

Thuyền ông Đô từ Tam Giang lọt ra cửa An Hòa, xuôi gió bấc chạy vào cảng Quy Nhơn. Tháng Chạp, gió già. Ông Đô phải bẻ lái chạy vào bờ, trúng cửa Sa Kỳ. Trên ghe có ông Đô, Hai Đô con gái đầu 15 tuổi và 7 cán bộ Việt Minh  đi tập kết. Ghe vừa cập bến, mấy người dân biển chạy tới khoát tay: “Bọn lính sáu túi đang kéo xuống đó. Các anh chạy nhanh. Chúng nó bắt đấy! Chạy nhanh!”.

Mấy người cán bộ quơ vội hành lý, nhảy lên bờ, lách vào làng, lần đường bộ vô Quy Nhơn. Ông Đô và con gái đóng vai dân biển. Mà thiệt, đã mấy đời làm nghề chài lưới, da đen thui ông có cần chi phải sắm vai. Lính quốc gia không phải người bản địa, sẵn chài sẵn trủ, cha con ông nói giọng Quảng Ngãi qua mắt chúng khỏe re. Bỏ ghe, về quê lấy phương tiện đâu mà làm ăn, được dân Sa Kỳ che chở, đợi vài ngày trở gió, cha con ông Đô lại giương buồm chạy về Quảng Nam. Về tới nhà, thì trên cái ốc đảo nhỏ Tam Giang nằm giữa vùng sông nước mênh mông này, lính quốc gia đã tràn ngập. Cảnh truy đuổi, bắn giết trả thù cán bộ, đảng viên ở lại diễn ra hàng ngày.

Ông Đô kế tục nghề thuyền rớ của cha ông để lại, nửa ở trên bờ nửa ở dưới nước. Chiếc thuyền rớ chính là nhà, hai vợ chồng và sáu đứa con lớn bé đều ở trên đó. Đêm đêm thuyền di động qua lại trên khúc sông từ bãi thôn Một đến bãi thôn Năm để hành nghề. Vợ chồng ông cũng có nhà trên bờ, nhưng năm 1952 bị Pháp đổ bộ đốt trụi, giờ mới có cái nhà tạm trên bãi Mắm ông Lộ, thôn Năm, Tam Giang nằm sát sông tiện việc làm ăn. Chiếc thuyền rớ và cả chiếc ghe ngao nhỏ của gia đình ông Đô nay trở thành phương tiện trú ngụ, chuyên chở, liên lạc bí mật của cán bộ Việt Minh trụ lại miền Nam hoạt động. Ông Đô thiết kế lại cái khoang thuyền trước thành nơi trú ẩn của cán bộ nằm vùng. Ông ghép gỗ hai lớp sàn, tạo thành cái “hầm bí mật” di động trên sông nước.

Người cán bộ đầu tiên nằm ở dưới sàn gỗ là ông Huỳnh Hà, Huyện ủy viên được phân công về nằm vùng cánh đông Tam Kỳ. Tháng 3.1955, trong một chuyến đi công tác ở phía ngoài Tam Tiến, Tam Thanh, bươn bờ rúc bụi bị gai móc vào mắt, Huỳnh Hà phải lùi về phía Tam Hòa. Hai Đô chèo chiếc ghe ngao qua rước ông về nằm tại thuyền rớ nhà mình dưỡng bệnh. Hai Đô lại theo lời cha qua Tam Hiệp, đến thầy Lầu mua thuốc về nhỏ gần hai tháng trời, chữa khỏi mắt cho chú Huỳnh Hà. Vừa khỏi bệnh con mắt, Huỳnh Hà ra trở lại Tam Tiến, Tam Thanh. Mấy tháng sau ông bị địch bắt ở phía đó. Nghe nói Huỳnh Hà bị bắt, bị tra tấn vô cùng dã man, ông Đô vừa thương vừa lo cơ sở bị vỡ. Nhưng không, Huỳnh Hà rất kiên cường. Gia đình ông Đô vẫn an toàn. Đêm đêm chiếc thuyền rớ của ông vẫn là nơi đi về, là nơi trú ngụ của các đồng chí trong những tháng năm đen tối nhất.

Tam Giang là nơi nằm sâu về phía nam vùng tự do khu 5 thời Việt Minh. Nơi đây gần như rặt ròng dân kháng chiến, lính quốc gia từ Đà Nẵng mới tràn vào tiếp quản không thể nắm được tình hình địa phương. Vì thế, bọn chúng thường truy bức những người kháng chiến cũ, cán bộ nằm vùng ở trong các làng xóm, chứ vùng sông nước còn là nơi bất ngờ. Thỉnh thoảng đám lính mới sai người bơi ghe hoặc chạy ca nô dạo quanh, vừa kiểm soát vừa kiếm cá về nhậu khuya. Nhưng tất cả đều phải hết sức cẩn trọng. Bọn lính mới tới rất siêng nhậu. Tụi hắn nhậu mà mình chết đấy. Ông Đô luôn nhắc bà Trung vợ ông và Hai Đô con ông: “Mình phải luôn cảnh giác mới bảo vệ được các đồng chí, bảo vệ được cách mạng và bảo vệ luôn chính mình, không còn cơ sở thì các đồng chí biết dựa vào đâu, tình hình đen tối lắm. Tình hình này thì không mong chi có ngày tổng tuyển cử...”. Nước mắt của vợ chồng ông Đô lén chảy trong đêm, trên chiếc thuyền cô độc. Nhưng ông Đô lại khẳng định: “Tui tin tưởng Đảng và Bác Hồ nhất định lãnh đạo dân tộc mình đấu tranh đến thắng lợi cuối cùng. Nước nhà sẽ thống nhất. Mà ngay trên cái ốc đảo nhỏ này chi bộ đảng vẫn còn, vẫn ngầm lãnh đạo được dân mình kia mà...”.

Cứ như vậy, giữa sông nước Trường Giang mênh mông, trong bao đêm trường đầy trắc ẩn, thuyền rớ của gia đình ông Đô luôn là nơi đón đợi, là trạm trung chuyển cán bộ nằm vùng. Tối tối, thuyền của ông vừa thả vừa cất vừa kiên nhẫn dõi mắt phía bên bờ Khương Đại, Khương Vĩnh - Tam Hiệp trông chờ tín hiệu: “Bên ấy bật ba chớp, thuyền trả lại hai; bên ấy bật lại hai chớp, bên ông trả tiếp ba. Hai lần ám hiệu, tổng cộng đủ mười”, ông Đô sai con gái hoặc bà Trung bơi ghe ngao qua đón các đồng chí về thuyền. Từ đây, các đồng chí lại đi tiếp vào các xóm ấp Tam Giang (về sau địch đổi tên thành Kỳ Xuân) hay đi tiếp qua Tam Hải (Kỳ Hòa) hoặc lên phía Cồn Ngao đến Tam Hòa (Kỳ Vinh)... Và còn một phương cách báo hiệu nữa! Đấy là tiếng đàn cò của ông Đô trên quãng sông tưởng chừng như vô sự này. Tiếng đàn cò réo rắt, dìu dặt lúc trầm lúc bổng giữa đêm khuya thanh vắng sẽ luôn đọng lại trong tâm khảm các đồng chí đã từng được thuyền ông Đô đưa đón, dẫu chỉ một lần qua đây trong đời. Ông Đô làm cách mạng. Ông Đô dân chài lưới. Ông Đô lãng mạn. Đời ông thiệt từng trải, quá gian nan nhưng cái chút lãng mạn giản dị ấy cũng ráng truyền lại cho các con.

Hai Đô, con gái đầu lòng của ông, cũng nhờ cái năng khiếu gia truyền ấy mà chị đã giải thoát được cho ông Huỳnh Cuộc, là cán bộ Huyện ủy về quê Kỳ Xuân hoạt động, ẩn mình trên thuyền của gia đình chị. Một hôm, bọn tề ngụy địa phương chạy thuyền máy tuần tiễu trên sông, thấy thuyền của gia đình chị, bất ngờ ngoặt lái. Hai Đô lập tức cầm cây đàn ra ngồi ở khoang sau vừa đàn vừa hát: “Này công dân ơi quốc gia đến ngày giải phóng...”. Bọn chúng ghé lại mục đích để kiểm soát ghe của ông Đô, một đối tựợng mà chúng phải dòm ngó thật kỹ. Nhưng thấy một thanh nữ mới lớn, da trắng trẻo, một thằng lên giọng: “Ê cô kia, nhảy qua đây hát cho bọn anh nghe với nào”. Hai Đô giả bộ chần chừ, e lệ. Hắn gọi lần nữa. Chị xách đàn vọt qua. Cả đám trên ghe máy ngồi nghe chị hát liên tiếp mấy bài. Có một thằng đột nhiên cắt ngang: “Có cá không em, để cho tụi anh một ít về nhậu chơi”.  “Dạ ít lắm, mới cất được có hai vác. Nhưng các anh có ưng thì em nói với mẹ biếu chứ mua bán gì đâu. Có mấy khi các anh ghé lại thuyền của em chơi”. Hai Đô nhảy qua ghe nhà mình xách cả mớ cá đưa cho bọn họ. “Chào em, tụi anh đi nhé”. “Dạ dạ các anh đi. Mai mốt nhớ ghé lại thuyền em chơi nghe!”… Hú vía! Bọn họ nổ máy chạy về đồn. Ông Huỳnh Cuộc từ khoang thuyền trước lách mình bước lên khen: “Con giỏi lắm. Anh Đô có đứa con gái khá thiệt. Nếu con không nhanh trí và có chút năng khiếu thì bọn đó nhảy sang lục tung ghe lên. Bác chạy đi đâu? Chết là cái chắc!”.

(Còn nữa)

Truyện ký của PHẠM THÔNG

.
.
.
.
.