65 năm trước, chúng tôi đi dân công

;
Thứ Năm, 07/12/2017, 09:40 [GMT+7]

Tháng 12.1952 chúng tôi được huy động tập trung tại thôn Tư - chợ Cà Đó (nay thuộc xã Tam Mỹ Tây, huyện Núi Thành) để cùng đoàn dân công Quảng Nam (C Quảng Nam) nhận gạo vận chuyển cho chiến trường Tây Nguyên. Cứ 2 người một tổ, trong đó một người gánh 30kg cho chiến trường, một người gánh 20kg để cả hai ăn đi đường. Đoàn chúng tôi bắt đầu đi vào ban đêm để tránh máy bay, theo lộ trình sẽ đến Quảng Ngãi rồi bật lên Tây Nguyên. Tôi còn nhớ hình như ông Lịnh (không nhớ họ) làm C trưởng. Đi ban đêm, họ vận động dân công vùng đồng bằng hò tát nước, dân miền biển hò kéo lưới, có khi hát vang để khỏi buồn ngủ. Đến Quảng Ngãi thì xin vào nhà dân nghỉ, ngày ngủ, đêm tiếp tục lên đường, sau đó đi chếch lên Trà Bồng và tiếp tục dừng nghỉ chân dưỡng sức. Ở Trà Bồng tôi có dịp thấy cảnh sinh hoạt của đồng bào dân tộc thiểu số nơi đây. Họ cũng cày cấy lúa nước, làm lúa rẫy. Đêm, họ dùng đuốc soi ếch nhái ở bờ ruộng, khi thấy con mồi thì dùng bẹ cau đập, hoặc đơm đó bắt cá ở các dòng suối.

Vào khu vực rừng núi thì tạm gọi là an toàn nên đoàn đổi lại ngày đi đêm nghỉ. Khi qua con sông Re rộng lớn, họ chất đá thành từng đống để làm trụ, rồi ngả cây bắc lên làm cầu. Đường rừng khó đi nên cứ được một đoạn chúng tôi lại nghỉ chân dưỡng sức và nghe ông Lê Hoán điểm thông tin chiến trường ở các mặt trận. Đêm xuống, tổ nào may mắn gặp lán trại lợp lá cau rừng là quý lắm. Lán được bện cây làm sàn, rộng chừng bốn mét vuông, có lẽ do bộ đội công binh dựng để nghỉ ngơi khi làm đường. Từ vùng rừng núi Quảng Ngãi có 3 đường để vận chuyển lương thực lên chiến trường Tây Nguyên. C Quảng Nam đi theo con đường có vạt làm dấu trên vỏ cây 3 vạch; đường có 2 vạch là C Quảng Ngãi; đường 1 vạch là C Bình Định. Mỗi đoàn cứ theo dấu đó mà đi, không sợ sai đường trong rừng.

Tôi nhớ đoạn đi khó nhất là leo lên dốc Ui, con dốc cao và ngược. Cũng may công binh lúc làm đường đã cột những cây như cái thang để vịn leo lên, nhưng cũng rất khó đi vì dưới chân toàn đất sét và rễ cây, trời thì mưa rả rích. Chúng tôi lên hết dốc, đến mặt bằng được dừng nghỉ ngơi dưỡng sức. Chúng tôi đốt đống lửa to như đốt than, cứ ba, bốn người nằm một cái lán có lửa ấm. Hôm ấy đúng ngày mùng Một Tết. Đêm, ông Huỳnh Hạo nhắc khiến ai cũng thấy nao lòng: “Bây giờ ở nhà mình đúc bánh xèo cúng khuya mà mình thì ở đây”. Sáng ngủ dậy, không có nước súc miệng, chúng tôi cứ nhổ nước bọt mãi. Trời lạnh lắm, áo ấm may vừa đủ che ngực, không có tay áo; chỉ vài có tơi lao, còn phần đông lấy chiếu gập lại tròng qua đầu, buộc dây ngang lưng.

Hơn hai tháng trong rừng không thấy mặt trời, mặt trăng vì cây cao to rậm rạp, mây mù, mưa rơi rả rích, nhưng cả đoàn ai nấy đều vui vẻ. Có hôm nghỉ chân dưỡng sức, nghe ông Lê Hoán đọc báo tin từ mặt trận đưa về là đồn Măng Đen (Kon Tum) ta lấy rồi, chúng tôi nghe tin phấn khởi vỗ tay vang dội quên hết cái lạnh cắt da. Hôm sau chúng tôi tiếp tục đi, cứ thêm một đoạn lại gặp bộ đội dẫn một số tù binh bị bắt ở đồn Măng Đen, chỉ có một ít lính Pháp, còn chủ yếu là tù binh người Việt đi lính cho Pháp. Mấy ngày sau, chúng tôi đi ngang qua đồn Măng Đen, được dừng lại mấy phút để… tham quan. Tôi thấy hào lũy trong đồn đào như cái hầm rộng và dài, rào ba lớp dây kẽm gai nhưng tất cả tan hoang hết rồi.

Chúng tôi tiếp tục đi, mong mau đến chỗ nhập gạo. Gặp người của ta, chúng tôi hỏi thăm còn bao xa nữa, họ trả lời còn quăng rựa nữa. Chúng tôi đi khá lâu chẳng thấy tới, lại hỏi người khác còn bao xa nữa, cũng nhận được câu trả lời còn quăng rựa nữa. Chúng tôi nói với nhau, quăng rựa gì mà dài thế. Cuối cùng chúng tôi cũng đến điểm nhập gạo nằm giữa núi rừng Đăk Đoa, hoàn thành nhiệm vụ.

Bây giờ đã là tháng 3.1953, tiết trời đang xuân, thời tiết ấm áp hơn. Chúng tôi trở về, không đi lại con đường cũ. Đường về lần này đi êm hơn, gần hơn, đi thẳng xuống huyện miền núi Ba Tơ, rồi xuống vùng đồng bằng Quảng Ngãi. Ở lại Quảng Ngãi dưỡng sức hai ngày, sau đó chúng tôi tiếp tục hành trình về quê nhà, ai nấy đều vui mừng khi đã làm xong nhiệm vụ, đi đến nơi về đến chốn.

LÊ THOẠI

.
.
.
.
.