Chuyện dưới chân đồi Đất Đỏ (Tiếp theo và hết)

;
Thứ Sáu, 26/01/2018, 09:00 [GMT+7]

Nói về người đồng đội Huỳnh Ngọc Phường, bác Bùi Xuân Hoàng bảo: “Anh chàng trẻ măng Huỳnh Ngọc Phường chuyên chèo ghe ấy thế mà đánh đấm ra trò. Mấy năm liền - từ năm 1966 đến cuối năm 1970, nhiều trận “kỳ phùng địch thủ” trên đồn Đất Đỏ đều có mặt mũi trưởng Huỳnh Ngọc Phường. Anh lăn lộn với Đội công tác, bám địch, nhanh nhẹn như con sóc trong rừng. Đến bây giờ vẫn có khó ai hình dung nổi cái trận chống càn của địch vào tháng 3.1966”. Theo lời bác Ba Hoàng kể, lần ấy một đại đội thủy quân lục chiến Mỹ, với xe tăng, máy bay yểm trợ hung hăng kéo xuống Kỳ Hòa rồi vượt sông sang đánh chiếm lại địa bàn xã Kỳ Vinh. Bọn Hội đồng xã theo chân lính Mỹ, cùng kéo về để huênh hoang: “Sẽ nhổ tận gốc bọn giặc cỏ nằm vùng”.

Mấy ngày liền, lúc nào cũng có máy bay bắn phá, pháo chùm từ Hạm đội 7 bắn vào. Chúng cố san bằng hệ thống địa đạo, giao thông hào liên thôn của ta, trước khi đổ quân. Ngày thứ ba vừa ngưng đợt oanh kích, trực thăng Mỹ từng tốp đổ quân  xuống. Bộ binh Mỹ vẫn chọn điểm cao đồi Đất Đỏ làm nơi đồn trú của Sở chỉ huy. Sáng hôm sau, Đại đội Biệt lập từ Kỳ Trung hùng hổ kéo qua. Đại đội Bảo an cùng lúc từ Kỳ Chánh theo xe tăng kéo xuống. Lính Biệt lập với Bảo an vòng qua nổng cát, tiến vào 3 thôn dọc sông Trường Giang để rà mìn, xăm hầm, đốt nhà…

Thấy phương tiện quân địch hùng hậu, bủa vây tứ phía, du kích xã ban đầu có phần e ngại. Vì thế, trừ đội trinh sát, còn hầu hết phải rút vào “thúc thủ” trong lòng địa đạo. Cũng may nhờ bom chùm rải dày trên cát, nên khóa kín các miệng hầm! Nhận thấy tình hình khá nghiêm trọng, bác Ba Hoàng cử một tổ trinh sát trong đêm lẻn ra ngoài, rồi dùng ghe ngược sông Trường Giang lên xin Huyện đội chi viện. Nửa đêm hôm sau, trinh sát mang về được 3 trung liên; 1 cối 60 ly và kéo theo 1 đội đặc công của V20. Có được súng hạng nặng và đội đặc công tinh nhuệ hỗ trợ, dân quân xã vô cùng phấn chấn. Với vai trò xã đội trưởng, bác tổ chức họp ngay dưới địa đạo và hạ quyết tâm: “Phải đánh và phải thắng!”.

Khoảng 9 giờ đêm, tất cả rời khỏi địa đạo để bố trí các mũi tấn công. Đội đặc công do đồng chí Mai - Huyện đội phó chỉ huy, dùng cối 60 ly và 1 trung liên tập trung nã đạn vào đồn Đất Đỏ. Hai khẩu trung liên khác giao cho 2 trung đội du kích mang ra giao thông hào, phía bờ sông. Đến 11 giờ đêm, nghe tiếng pháo cối làm hiệu, cả ba mũi đồng loạt khai hỏa. Quân ngụy tập trung ở khắp rìa làng, tỏa ra bắn trả. Du kích vừa bắn tỉa vừa dụ địch vào các điểm có hầm chông, bãi mìn. Khi chiếc xe tăng đi đầu vừa qua con mương cán phải mìn phát nổ. Bọn lính chạy tán ra hai bên, lại sập xuống bẫy chông kêu la inh ỏi. Du kích cứ nhằm chỗ có tiếng la hét mà ném lựu đạn tới…

Trong lúc đó, trên đồn Đất Đỏ tụi Mỹ không kịp phản ứng đã “dính” liền hai quả đạn cối. Chúng bò ra các lô cốt vừa dựng tạm bằng bao cát nên càng dễ làm “mồi” cho khẩu trung liên. Giữa lúc đặc công ta đang mò vào sở chỉ huy địch thì chúng bắn pháo sáng hàng loạt lên trời. Ai ngờ, chính pháo sáng lại làm lộ các ụ súng và hầm chỉ huy của quân Mỹ. Đội đặc công vượt qua hàng rào dây thép gai, ném lựu đạn trực diện vào sở chỉ huy địch. Lính Mỹ số chết, số bị thương nằm la liệt bên công sự, số bỏ chạy dạt xuống chân đồi, bám theo xe tăng thoát thân. Đội đặc công chiếm được đồn và dùng ngay công sự của địch để bắn xuống, hỗ trợ cho du kích phía bờ sông…

Không thể “nhổ cỏ” được cộng sản mà ngược lại, lúc trời chưa kịp sáng, cả quân Mỹ ngụy, Hội đồng xã vội vàng nhổ lều, mang súng tháo chạy về hướng Chu Lai. Trận này ta thu được 13 khẩu súng các loại. Dân quân du kích cả xã thở phào nhẹ nhõm. Nhưng khi kiểm tra quân số mới biết thiếu đồng chí Huyện đội phó. Mọi người chạy lên đồi, thấy đồng chí Mai hy sinh ngay bên hầm chỉ huy của quân Mỹ!”…

“Kể cho đầy đủ những trận “vần” nhau với Mỹ ngụy trên đồi Đất Đỏ thì không ai nhớ hết” - bác Hoàng khoát tay, nói. Hầu như từ năm 1966 đến tận năm 1972, xã Kỳ Vinh này không bao giờ được yên ổn quá 10 ngày. Không phải chỉ có quân Mỹ đâu, mà cả bọn Biệt lập ở xã bên cũng thường xuyên đưa quân sang đánh phá. Nguyễn Vĩnh Liệu cũng từng mấy phen thoát chết ở Kỳ Vinh này, nên chúng nó căm lắm. Bọn đàn em của Liệu thề sống chết là sẽ “rửa hận” cho chủ, bằng cách phục bắt cho được Bùi Xuân Hoàng về “cắt tai nhấm rượu”.

“Nhưng cũng may, tai Ba Hoàng vẫn còn đây! Không những thế, Đội công tác xã Kỳ Vinh do bác chỉ huy vẫn tiếp tục được nuôi dưỡng và lớn mạnh ngay trong lòng địch. Đến năm 1970, xã đội đã phát triển được 2 chi bộ đảng, đặt tên là Chi bộ Đội công tác và Chi bộ Hợp pháp. Chi bộ Hợp pháp do Võ Thị Song - vợ bác - làm Bí thư. Thế là từ đây cả vợ chồng đều là bí thư, cùng phối hợp chặt chẽ để xây dựng lực lượng và bám trụ vững địa bàn” - bác Ba Hoàng kể.

Nếu chỉ tính trong giai đoạn 1970-1973 (trước khi Mỹ rút quân về nước), riêng khu vực đồi Đất Đỏ đã diễn ra hơn 30 trận đánh lớn nhỏ. Địa bàn Kỳ Vinh giai đoạn này khá đặc biệt, ban ngày là của địch; còn ban đêm là của ta. Mọi sinh hoạt, hội họp của ta đều ở dưới các địa đạo nhưng địch không phát hiện được. Có đoạn địa đạo đào ngách thông lên chân đồi, ngay giữa bụi cây mà bọn địch vẫn không hay biết. Vì thế, mỗi lần quân Mỹ hay ngụy củng cố, xây dựng đồn trú trên đỉnh đồi, du kích ta đều nắm rất rõ. “Cho nên trước mỗi trận đánh, trinh sát của ta điều nghiên kỹ càng, để đánh là phải thắng và hầu như sự thiệt hại, hy sinh của ta rất ít. Ba Hoàng này là người bám trụ xuyên suốt ở đây, trận đánh nào vào đồn Đất Đỏ cũng đều góp mặt tham gia hoặc chỉ huy chiến đấu, nhưng không thể nhớ hết. Nhìn chung, qua mấy trận “thư hùng” ở đây, ta mất ít, được nhiều. Cái được quan trọng nhất với Đội công tác Kỳ Vinh lúc ấy là thu nhiều quân dụng và vũ khí tối tân của Mỹ ngụy. Do đó, trong khi du kích các xã lân cận chủ yếu có tiểu liên Tiệp Khắc, súng trường bắn tỉa với lựu đạn… thì mỗi trung đội du kích Kỳ Vinh đã được trang bị hơn 10 khẩu AR.15; 2 khẩu M.79; 1 cối 60 ly; 4 súng phóng lựu và rất nhiều đạn dược, mìn chống tăng, lựu đạn M.16… Nhờ đó mà chúng ta giữ vững được địa bàn suốt 10 năm ác liệt, gian khổ nhất. Kể từ năm 1965, Kỳ Vinh là xã đầu tiên được giải phóng” - bác Ba Hoàng nói.

Qua nhiều chiến thắng giòn giã trên đồi Đất Đỏ, cuối năm 1965 Quân khu 5 đã tặng “nóng” quân dân Kỳ Vinh Huân chương Thành đồng hạng Nhất. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, địa bàn xã Kỳ Vinh và 3 thôn giáp nhánh sông Cây Trâm của Kỳ Chánh sáp nhập lại thành xã Tam Hòa. Lực lượng vũ trang cùng nhân dân xã Tam Hòa cũng đã được Nhà nước trao tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân vào ngày 31.8.1999. “Đó không chỉ là những tấm bằng kỷ niệm, mà thực tế là những “mốc” đánh giá chân thực nhất chiến công của quân - dân Kỳ Vinh, nay là xã Tam Hòa” - bác Ba Hoàng chia sẻ.

NGÔ PHÚ THIỆN

.
.
.
.
.