Phong trào Nước Xu ở vùng cao ngày ấy...

;
Thứ Tư, 18/04/2018, 09:22 [GMT+7]

Những năm 1936 - 1939, phong trào Nước Xu của đồng bào các dân tộc ở Trà My và Phước Sơn đã tập hợp dân làng đứng lên chống lại thực dân Pháp. Mặc dù phong trào thất bại nhưng qua đó cho thấy tinh thần quật cường của các dân tộc ở vùng cao...

Lớp tự vệ các dân tộc miền núi tập phóng lao, bố phòng chống địch, giữ vững vùng căn cứ cách mạng. Ảnh tư liệu
Lớp tự vệ các dân tộc miền núi tập phóng lao, bố phòng chống địch, giữ vững vùng căn cứ cách mạng. Ảnh tư liệu

Phong trào này do Săm Brăm - người Chăm ở Phú Yên khởi xướng năm 1935 và lan rộng ra miền tây Quảng Nam. Theo truyền thuyết, “Nước Xu” hay “Nước Xu đồng” là từ ghép của các từ “nước phép”, “nước thần” và xu đồng. Gọi là phong trào “Nước Xu” vì những người tham gia phong trào tin rằng nếu uống được nước có phép màu, lấy từ một con suối linh thiêng thì đạn giặc Pháp bắn không chết. Theo quy định chung, ai muốn sử dụng “nước phép” thì góp vào một xu tiền đồng. Có lẽ các thủ lĩnh của phong trào này muốn dùng số xu đồng để tính số lượng người tham gia phong trào. Từ năm 1936, phong trào “Nước Xu” đã lan ra khắp các tỉnh ở Tây Nguyên, trong đó có tỉnh Kon Tum giáp ranh với Quảng Nam, vì vậy, ở Quảng Nam phong trào phát triển mạnh mẽ ở các huyện Trà My, Phước Sơn.

Khởi phát từ Trà My...

Cuối năm 1937, nhân dân các dân tộc thiểu số huyện Trà My, dưới sự lãnh đạo của ông Điền, ông Đúc, đã nổi dậy hưởng ứng phong trào này, tổ chức nhiều cuộc đánh Pháp. Ông Điền, ông Đúc là hai anh em ruột sinh trưởng trong một gia đình giàu, có thế lực ở Non Dắt. Cha hai ông là người Kinh, tên Quế, quê ở Quảng Ngãi. Mẹ là người Xê Đăng quê ở Non Dắt. Ông Điền, ông Đúc sinh ra và lớn lên trên quê mẹ, sống và lao động theo phong tục tập quán của người Xê Đăng. Năm 1937, khi phong trào “Nước Xu” lan ra nhiều tỉnh Tây Nguyên, hai ông đã băng rừng, vượt suối lên Kon Tum, liên hệ với Kay Riêm và Kay Tum để đổi “nước phép” mang về cho nhân dân trong vùng, qua đó dấy lên phong trào chống Pháp sôi nổi ở Trà My và các vùng lân cận. Cuối năm 1937, đồng bào ở các làng thuộc các xã Trà Nam, Trà Linh, Trà Cang, Trà Mai... rào làng, làm lễ cúng thần linh và tổ chức lực lượng nổi dậy đánh Pháp. Đầu năm 1938, thực dân Pháp mở một cuộc hành quân lên vùng cao Trà My, đoán được hướng đi của địch, nghĩa quân mai phục tại Dốc Dược và đợi quân địch lọt vào trận địa mới  tấn công. Nghĩa quân dùng cung nỏ bắn tới tấp vào đội hình quân Pháp, tiêu diệt nhiều tên địch, trong đó có một sĩ quan chỉ huy Pháp bị bắn chết. Bị thua đau, quân địch phải lui về Nước Xa.

Chiến thắng Dốc Dược của các dân tộc thiểu số tham gia phong trào “Nước Xu” ở Trà My đã bẻ gãy cuộc hành quân của địch lên vùng cao, góp phần nâng cao niềm tin là đồng bào các dân tộc thiểu số ở Trà My có đủ khả năng đánh Pháp bằng vũ khí thô sơ. Sau trận Dốc Dược, thực dân Pháp tăng quân, thực hiện cho bằng được cuộc hành quân thọc sâu lên vùng cao Trà My. Tên Đơ Luxtanh - Trưởng đồn Bót Xít (Bến Giằng) được viên công sứ Pháp ở Hội An gọi về giao nhiệm vụ lên gấp Trà My tìm cách bắt ông Điền, ông Đúc. Nhân dân các dân tộc thiểu số ở Trà My lại tiếp tục cuộc chiến đấu. Quân Pháp rất vất vả mới vào được một số làng vùng cao. Tại Non Dắt, địch xảo quyệt dùng một tên thương lái trước đó có quen biết ông Điền, ông Đúc lần mò vào núi tìm đến nơi hai ông đang trú, dụ dỗ hai ông ra hàng sẽ được tha bổng. Vì lầm mưu giặc, ông Điền, ông Đúc đã bị thực dân Pháp bắt và xử bắn ngay tại Non Dắt. Giết được hai anh em ông Điền, ông Đúc, thực dân Pháp thẳng tay đàn áp nhân dân địa phương. Song đồng bào các dân tộc thiểu số Trà My vẫn anh dũng đứng dậy, kiên quyết chống Pháp, giữ đất, giữ rừng, giữ cuộc sống yên lành và tự do của mình.

Mùa xuân năm 1938, dự kiến được tình hình quân Pháp từ Non Dắt sẽ đến càn quét làng mình, đồng bào Ca Dong ở làng Tu Du, dưới sự chỉ huy của Xen Đung, chủ động bố trí lực lượng đánh địch từ xa, khi chúng chưa đến làng. Tu Du trước kia là một làng giàu có nổi tiếng ở xã Trà Cang. Ở đây, đồng bào làm được con đường rộng đi từ làng ra các vườn quế và từ làng ra rẫy. Một số người giàu trong làng dùng ngựa đi thăm quế. Tu Du là một trong những làng có ý thức chống thực dân Pháp. Cả làng đều được huy động vào trận đánh. Người già, phụ nữ, trẻ em vót chông cắm làm chướng ngại vật, đặt bẫy quanh làng. Riêng lực lượng thanh niên phục kích tại Non Đoan, nơi địch phải đi qua để vào làng. Những thanh niên thạo tên, ná, tích cực đánh trận này là Prồng, Dày Den, Niếu, Nuôn... Đúng như dự kiến của làng Tu Du, lính Pháp từ Non Dắt xuống Tak Chanh rồi tiến về Non Đoan. Tại đây, chờ địch lọt hết vào trận địa đã bày sẵn, theo lệnh của Xen Đung, quân khởi nghĩa tấn công từ hai bên núi. Bị đánh bất ngờ trong thế trận không thấy bóng dáng và phương hướng tấn công của đối phương, địch hốt hoảng vãi đạn lung tung rồi tháo chạy về đồn Trà My.

...và lan đến Phước Sơn

Tại vùng cao Phước Sơn, một vị già làng cũng đã sang Kon Tum liên hệ với các thủ lĩnh ở đây để mua “nước thần” về bán lại cho dân ở các làng. Nhiều gia đình đã mua nước thần về uống với mong muốn tránh được đạn của Pháp và chữa lành được bệnh đậu mùa. Ở Phước Sơn còn lưu truyền bài thần chú trong các buổi lễ cúng “nước thần” với nội dung: “Nước đỏ, nước xu/ Tây bắn mình không trúng/ Trúng cây, trúng dây/ Trúng rừng, trúng nước/Không trúng con Bh’noong/ Núi rừng sông suối mình/ Không phải núi rừng của Tây/ Không phải sông suối của Tây...”.

Mặc dù phong trào “Nước Xu” mang màu sắc mê tín, nhưng “Nước Xu” đã khơi dậy tinh thần yêu nước của đồng bào các dân tộc Phước Sơn, qua đó, ta đã tập hợp được lực lượng quần chúng vào phong trào chống Pháp. Tiêu biểu cho phòng trào đấu tranh chống thực dân Pháp của nhân dân các dân tộc Phước Sơn trước Cách mạng 8.1945 là phong trào đấu tranh vũ trang của nhân dân làng Cà Đhoạt Mừng do ông Giang và ông Rẫy lãnh đạo.

Ông Giang và ông Rẫy là hai chủ làng có uy tín. Nhân một lần đi săn, hai ông nhặt được một khẩu súng của Tây, đem về làng, hai ông tập hợp thanh niên đến tháo súng, lau chùi rồi bắn thử. Súng bắn tốt, đạn nổ to. Vui mừng vì có được vũ khí tốt, ông Giang và ông Rẫy tập hợp thanh niên trong làng thành một đội chiến đấu. Hai ông tổ chức cho dân làng vót chông, làm mũi tên tẩm thuốc độc để đánh giặc. Quân Pháp ở Đồn Đăk Glêi nghe tin dân làng Cà Đhoạt Mừng có súng liền kéo đến vây làng. Ông Giang, ông Rẫy lãnh đạo đội quân chiến đấu rất dũng cảm. Tuy nhiên, do thiếu kinh nghiệm tổ chức trận địa và chiến đấu, cuối cùng nghĩa quân bị thất bại. Ông Giang, ông Rẫy, nhiều nghĩa quân và dân làng anh dũng hy sinh. Phong trào “Nước Xu” và cuộc khởi nghĩa của ông Giang và ông Rẫy, tuy thất bại nhưng thể hiện tinh thần đấu tranh bất khuất chống thực dân Pháp, tinh thần yêu quê hương, yêu tự do, yêu núi rừng của đồng bào các dân tộc Phước Sơn.

LÊ ĐÔNG

.
.
.
.
.