Một cuộc giải nguy

;
Thứ Tư, 13/02/2019, 10:48 [GMT+7]

Mãi đến bây giờ tôi vẫn nhớ như in hình ảnh ông mặc bộ quần áo màu xanh công nhân, đội mũ nhựa, xách thùng dụng cụ thô sơ cùng với ông Lê Ngọc Dũng - sĩ quan công an phục viên bước xuống con tàu hàng của Liên Xô (cũ) neo đậu tại cảng Tiên Sa Đà Nẵng để… cạo gỉ sét. Ông là Trung tá Trần Văn Tư, bí danh Trần Văn Sang, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Còn nhớ, hôm đó Chủ nhật, thấy ông chuẩn bị đi cạo gỉ, tôi nằng nặc xin đi theo để làm thêm kiếm tiền trong thời buổi bao cấp khó khăn, ông khoát tay bảo: “Tụi bay còn trẻ, công tác lâu dài, phải giữ gìn sức khỏe để làm việc cho tốt. Chú nghỉ hưu rồi nên mới đi làm việc ni”. Ông đi cạo gỉ cho tàu Liên Xô để họ sơn mới cũng để kiếm thêm thu nhập cho gia đình sau khi nghỉ hưu. Một việc làm quá đỗi giản dị và chân chính của vị Trung tá, nguyên Trưởng phòng Bảo vệ nội bộ Công an tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng (cũ) đã làm cho không ít người kính nể bởi đức tính dưới mức khiêm nhường của một anh hùng trong khói lửa, đạn bom.

Thừa ủy quyền Chủ tịch nước, Bí thư Tỉnh ủy QN-ĐN Hồ Nghinh trao danh hiệu Anh hùng LLVT cho Trần Văn Tư.  (Chụp lại ảnh tư liệu)
Thừa ủy quyền Chủ tịch nước, Bí thư Tỉnh ủy QN-ĐN Hồ Nghinh trao danh hiệu Anh hùng LLVT cho Trần Văn Tư. (Chụp lại ảnh tư liệu)

Ông Trần Văn Tư sinh năm 1927 tại xã Điện Quang, Điện Bàn. Vừa tròn 18 tuổi thì ông thoát ly vào bộ đội, chiến đấu trên khắp các chiến trường Quảng Đà. Năm 1962 ông được điều động sang Ban An ninh tỉnh Quảng Đà, cho đến năm 1965 Tỉnh ủy quyết định thành lập Đại đội Cảnh vệ - còn gọi là C113 gồm 20 cán bộ chiến sĩ, thuộc Ban An ninh tỉnh, giao ông Trần Văn Tư làm Đại đội trưởng, với nhiệm vụ chủ yếu là bảo vệ lãnh đạo Khu ủy 5 khi hoạt động tại địa bàn và các đồng chí lãnh đạo Tỉnh ủy Quảng Đà. Để bảo vệ tuyệt đối an toàn cho lãnh đạo Tỉnh ủy, ông Tư chỉ đạo đơn vị bám làng mạc, xóm thôn, xây dựng hàng trăm cơ sở cách mạng, đào hàng chục hầm bí mật tại những vùng khó khăn, hiểm trở để che giấu lãnh đạo mỗi khi bị địch càn quét, bao vây.

Khoảng tháng 2.1967, một mình ông trực tiếp bảo vệ Bí thư Hồ Nghinh và Phó Bí thư Tỉnh ủy Quảng Đà Trần Thận về vùng Gò Nổi công tác. Khi ông vừa đưa được hai đồng chí lãnh đạo vào đến nơi thì xe tăng, máy bay Mỹ ào ạt đổ quân càn quét cả vùng Gò Nổi. Bị địch bủa vây nhiều phía, không lối thoát, nguy cơ hai đồng chí lãnh đạo cũng như bản thân ông sa vào tay giặc rất cao. Không còn đường lui nên ông quyết định đưa hai ông Hồ Nghinh và Trần Thận xuống căn hầm bí mật được đào sẵn ở gần bờ sông Thu Bồn. Khi nắp hầm bí mật vừa được đậy kín thì quân Mỹ kéo tới căng lều, cắm trại ngay trên nắp hầm. Nằm trong lòng đất lạnh lẽo, tối tăm, ông Trần Văn Tư nghe rất rõ tiếng cười nói, tiếng va chạm lách cách của khí giới ở trên mặt đất mà lòng trĩu nặng nỗi lo cho sự an toàn hai đồng chí lãnh đạo. Ông nghĩ tới tình huống xấu nhất là nếu bị địch khui hầm thì sẽ chiến đấu đến cùng, dẫu có hy sinh để bảo vệ lãnh đạo. Mấy miếng bánh lương khô, bình đông nước uống phục vụ hai đồng chí lãnh đạo đã cạn kiệt từ lâu bởi 5 ngày đêm trôi qua, quân Mỹ vẫn không di chuyển đi nơi khác. Lúc này sức khỏe của các ông Hồ Nghinh, Trần Thận cũng như bản thân ông bị giảm sút nhiều vì đói khát. Không thể để các đồng chí lãnh đạo cũng như mình hy sinh ngay trong căn hầm bí mật đang bế tắc đường rút, Trần Văn Tư  phải dùng mười đầu ngón tay của mình thay cho cuốc, xẻng quyết tâm đào ngách để thoát ra ngoài. Sau 2 ngày đêm kiên trì, mười đầu ngón tay của ông sưng vù, rướm máu đau nhói nhưng ông vẫn cắn răng chịu đựng  và cuối cùng ánh sáng trên mặt đất bắt đầu le lói bởi lối lên đã ở sát bên bụi tre rậm rạp nên quân Mỹ nằm cách đó chừng 4 mét vẫn không hay biết. Đợi cho màn đêm bao phủ, ông Trần Văn Tư trườn người lên mặt đất rồi lần lượt kéo hai ông Hồ Nghinh, Trần Thận lên và đưa ra mé sông. Do sông sâu, không có phương tiện vượt sông, Trần Văn Tư phải “giấu” hai đồng chí lãnh đạo vào vị trí thích hợp rồi quay trở lại chỗ bọn Mỹ dựng trại, đợi cho tên lính gác quay vào gọi thay ca liền kéo chiếc ghe nan ở gần đó về chở hai ông Hồ Nghinh, Trần Thận qua sông.

Khi sang tới bờ bên kia an toàn, ông Hồ Nghinh mới sực nhớ còn sót tập tài liệu tuyệt mật dưới căn hầm. Trần Văn Tư liền bơi ghe trở lại, dò dẫm trong đêm để chui xuống hầm. Sau khi gói kỹ tập tài liệu bằng bao ny lon để chống ướt và quấn chặt trong người, ông sè sẹ ra khỏi hầm, thấy bọn Mỹ nằm ngủ la liệt nên giương khẩu AK bóp cò, tiêu diệt tại chỗ 5 tên rồi nhanh chóng bơi qua sông. Ở phía bên bia bờ Thu Bồn nghe tiếng súng nổ, các ông Hồ Nghinh, Trần Thận vô cùng đau đớn bởi cứ tưởng địch phát hiện Trần Văn Tư nên mới nổ súng chứ không hề nghĩ theo chiều hướng ngược lại. Trong lúc nỗi lo của hai ông đang ngập tràn thì Trần Văn Tư bất ngờ xuất hiện, các ông Hồ Nghinh, Trần Thận ôm chầm lấy ông trong niềm vui mừng tột cùng!

Trong suốt chặng đường làm nhiệm vụ cảnh vệ đầy gian khổ của thời chiến tranh khốc liệt, ông Trần Văn Tư luôn vững vàng về bản lĩnh, dũng cảm và mưu trí, sáng tạo. Có thể nói, chiến công xuất sắc của ông cũng như Đại đội Cảnh vệ là bảo vệ tuyệt đối an toàn các đồng chí lãnh đạo cao nhất của tỉnh Quảng Đà trong chiến tranh. Ông đã được tặng thưởng Huy hiệu Bác Hồ, danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ” và nhiều huân, huy chương các loại. Ngày 19.8.1980, ông được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Sau một thời gian dài chống chọi với bệnh tật và di chứng của chiến tranh tái phát, tháng 5.2018 ông Trần Văn Tư qua đời ở tuổi 92.

THÁI MỸ

.
.
.
.
.