KỶ NIỆM 60 NĂM NGÀY MỞ ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH - NGÀY TRUYỀN THỐNG BỘ ĐỘI TRƯỜNG SƠN (19.5.1959 - 19.5.2019)

Trên cung đường huyền thoại - Kỳ 2: Trở lại Bến Giằng

;
Thứ Ba, 14/05/2019, 12:50 [GMT+7]

Chúng tôi trở lại Bến Giằng, một trong 2 điểm di tích đánh dấu quan trọng của tuyến đường Hồ Chí Minh qua Quảng Nam, để trực tiếp quan sát và nghe lại những câu chuyện kể về một thời oanh liệt đã qua.

Cột mốc 678, ghi dấu cung đường Hồ Chí đoạn qua Bến Giằng - một vị trí chiến lược quan trọng; từ đây có thể vận chuyển vũ khí về các chiến trường bằng đường bộ và cả đường thủy. Ảnh: V.V.T
Cột mốc 678, ghi dấu cung đường Hồ Chí đoạn qua Bến Giằng - một vị trí chiến lược quan trọng; từ đây có thể vận chuyển vũ khí về các chiến trường bằng đường bộ và cả đường thủy. Ảnh: V.V.T

Vị trí chiến lược quan trọng

Chúng tôi tìm gặp ông Giơ Râm Un, hơn 70 tuổi đời và hơn 55 năm tuổi Đảng, nguyên Bí thư Huyện ủy Nam Giang, nguyên Phó Bí thư Tỉnh đoàn Quảng Nam - Đà Nẵng. Là người phụ trách Đoàn thanh niên Ban Giao vận các huyện miền núi Khu Nam Sơn thời chống Mỹ, ông Giơ Râm Un cho biết, trong suốt thời gian từ tháng 11.1965 đến 10.1970, ông phụ trách lực lượng thanh niên tham gia bảo vệ tuyến hành lang con đường Thống nhất - một tên gọi khác của đường Hồ Chí Minh từ sau 1964. Nhiệm vụ lúc đó là vận chuyển gùi cõng lương thực, vũ khí ở các binh trạm từ Bắc chuyển vào để phục vụ khắp các chiến trường ở Quảng Nam.

Ông Giơ Râm Un đã lý giải vì sao Bến Giằng lại có vị trí chiến lược quan trọng của tuyến đường Trường Sơn hay gọi đường Hồ Chí Minh qua huyện Giằng (nay là huyện Nam Giang). Bởi từ đây có thể tỏa đi các ngả, như về phía bạn Lào, về xuôi, qua cánh các huyện Phước Sơn, Trà My… Các lực lượng tiếp vận của ta có thể đi đường bộ nhưng cũng có thể đi đường thủy theo nhánh sông Bung đầu nguồn Vu Gia cung cấp vũ khí cho Mặt trận 44 Quảng Đà, Thượng Đức, Nông Sơn…

Qua 44 năm sau ngày giải phóng, thời gian bằng cả nửa đời người nhưng tâm trí ông Gơ Râm Un không thể nào quên những tháng năm hừng hực khí thế cả đất nước lên đường ra mặt trận. Gian khổ vô cùng tận, bởi mọi việc đều với tinh thần hết sức bí mật từ việc đi lại đến nấu nướng, nghỉ ngơi. Mùa nắng nóng đã vất vả, mùa mưa đường lầy lội, sên vắt, rồi những cơn sốt rét rừng hoành hành…, người sống ở rừng có khi hàng tháng trời cho mỗi chuyến đi nên ai cũng trở nên xanh xao, gầy rọt, có người quỵ ngã vì mất sức, vì bệnh tật và cả bị phi pháo địch oanh tạc… Xúc động nhất là khi ông cũng như đồng đội của mình chứng kiến những chuyến xe vượt Trường Sơn đi vào mang theo khối lượng lớn vũ khí, lương thực cho chiến trường mà trước đây đều phải gùi cõng, xe thồ vô cùng vất vả…

Ký ức thời hoa lửa

Những năm tháng đó, nhiều nữ thanh niên xung phong, nữ thanh niên hỏa tuyến phải sống cuộc sống vô cùng cơ cực, gian khổ, sự cống hiến của các cô không phải trong một tháng, một năm mà ba bốn năm… rồi bảy tám năm như thế giữa rừng già “Sốt nhiều mai mái nước da/ Cái thì con gái đi qua chiến trường”. Truyền thống kiên cường bất khuất trung hậu đảm đang đã hun đúc để các cô gái Trường Sơn bước vào lịch sử như những bông hoa có sức tỏa sáng và ngát hương thơm, các cô làm rạng rỡ Trường Sơn, làm vẻ vang cho đất nước.

Bia di tích đường mòn Hồ Chí Minh - 559 đường Trường Sơn qua Quảng Nam. Ảnh V.V.T
Bia di tích đường mòn Hồ Chí Minh - 559 đường Trường Sơn qua Quảng Nam. Ảnh V.V.T

Đó là nói về những người lính từ miền Bắc, những chàng trai cô gái mười tám đôi mươi vượt tuyến lửa, xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước; còn với những người dân địa phương ở miền Tây Quảng Nam, trong nhiều tấm gương dũng cảm trên cung đường huyền thoại năm xưa, ông Giơ Râm Un đặc biệt quý trọng một người con của núi rừng quê ông, đó là Alăng Bhuốch (mất năm 2015). Alăng Bhuốch sinh ra trong một gia đình nghèo, vì bệnh tật nên năm lên 10 tuổi bị mù cả hai mắt. Tuy mù nhưng tai rất thính, mỗi lần nghe các bạn cùng lứa kể chuyện giặc ném bom tàn phá buôn làng, rồi việc bạn bè cùng lứa lần lượt tham gia cách mạng, Alăng Bhuốch năm nỉ mẹ cho tham gia tải đạn. Thời gian đầu tham gia công việc vận chuyển rất khó nhọc, phải mất hơn 3 tháng  trời ông mới quen được đường đi, lối về. Năm 1967, Alăng Bhuốch được điều động bổ sung vào Đoàn Trung Sơn trực thuộc Tỉnh đội Quảng Nam, điểm trực là kho 31 tại hang Khỉ, chân dốc Alơơl - ranh giới giữa huyện Hiên (Quảng Nam) và huyện A Lưới (Thừa Thiên Huế). Trong suốt quá trình tham gia vận chuyển lương thực, tải đạn, nếu bình quân mỗi ngày đêm gùi khoảng 50kg thì trong vòng 14 năm, từ năm 1958 đến 1972, Alăng Bhuốch đã gùi khoảng 120 tấn vũ khí và 62 tấn lương thực. Bằng lòng yêu nước, ông đã vượt qua mọi khó khăn, gian khổ để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. A Lăng Bhuốch đã vinh dự được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Còn có câu chuyện tiểu đội 6 cô gái sông Bung (Phạm Thị Ánh, Trần Thị Kim Liên, Trà Thị Bảy, Ngô Thị Mười, Trần Thị Mai, Hồ Thị Tám) tải đạn phục vụ chiến trường Mặt trận 44 Quảng Đà. Năm 1973, các cô là những người chở nhà thơ Tố Hữu trở lại thăm ngôi làng Rô mà cách đó 31 năm Tố Hữu và nhà cách mạng Huỳnh Ngọc Huệ vượt ngục Đắk Lay (Kon Tum) về đây được nhân dân cưu mang đùm bọc. Ngay trên chuyến thuyền hôm đó, Tố Hữu đã có thơ: “Sáu cô đảm nhiệm 3 thuyền/ Xuôi dòng đạn dược ngược dòng thương binh”. Ông Giơ Râm Un cho biết, mới đây các cô đã trở lại chiến trường xưa, tìm đến thăm ông - người chỉ huy lực lượng tại chỗ năm xưa. Họ có khoảng thời gian lắng lại những kỷ niệm vui buồn, ai cũng bùi ngùi xúc động, vì có những đồng đội của họ đã vĩnh viễn ra đi khi tuổi đời còn quá trẻ, gia cảnh về chiều của nhiều người vẫn còn vất vả, tuổi xuân một thời con gái đã gửi lại những cánh rừng trong tiếng chim “bắt cô trói cột” hoang vắng, quạnh hiu… Song câu chuyện của thì quá khứ vẫn lắng lại niềm tự hào của những người con đất Việt yêu nước, khi những năm tháng cuộc đời của họ đã góp chung vào gia tài một dân tộc đi qua chiến tranh để có hòa bình độc lập hôm nay.

Anh hùng A Nun

Có một câu chuyện chúng tôi được biết qua lời kể của Thiếu tá Võ Như Thông, nguyên Phó Trưởng ban Tuyên huấn Quân khu 5. Chuyện về Hồ A Nun sinh năm năm 1944, dân tộc Pa Cô ở A Lưới (Thừa Thiên Huế) là em ruột Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (LLVTND) Kan Lịch, gọi Anh hùng LLVTND A Vai bằng chú (ông Thông chính là nhân chứng và là người viết bản thành tích để chiến sĩ Hồ A Vai được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND). A Nun là người có sức khỏe phi thường, cộng với lòng căm thù giặc đã tiếp sức thêm cho A Nun trèo đèo lội suối gùi nặng được gần 200kg từ A Lưới (Thừa Thiên Huế) vào Quảng Nam.

Cuối năm 1969, Hồ A Nun được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND, trong ngày vui lớn A Nun tâm sự với ông Thông trong nước mắt: “Tôi bị thiệt thòi quá, thiệt thòi hơn chú A Vai và chị Kan Lịch vì khi được nhận danh hiệu anh hùng thì Bác đã ra đi”. Ông Thông bảo, vậy đó, những hình ảnh và những câu chuyện về Bác mãi soi đường cho những người con ưu tú của núi rừng Trường Sơn trở nên phi thường trong cuộc chiến khốc liệt với quân thù. Và những đồng đội của ông đã có những lời thơ tâm huyết về Bác: “Bác Hồ ơi những tháng ngày gian khổ/ Mưa lụt Trường Sơn đói lả, bom gầm/ Chúng con tựa vào nhau nghe lời Bác/ Lòng dặn lòng sống chết chẳng phân vân/ Ôi chí Bác như Trường Sơn vời vợi/ Đã truyền cho sức mạnh mỗi con người...”.

-----------------
Kỳ 3: Thẳm sâu lòng đất, lòng dân

VÕ VĂN TRƯỜNG

.
.
.
.
.