KỶ NIỆM 65 NĂM HIỆP ĐỊNH GIƠNEVƠ (20.7.1954 - 20.7.2019)

Giữ vững ngọn lửa đấu tranh

;
Thứ Năm, 18/07/2019, 13:48 [GMT+7]

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Pháp bằng việc ngày 20.7.1954, Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Đông Dương được ký kết. Nhưng với âm mưu xâm lược nước ta từ lâu, đế quốc Mỹ đã hất cẳng Pháp, thôn tính miền Nam bằng việc thiết lập chế độ thực dân mới, dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm. Những năm 1954 - 1959, cũng như các nơi, phong trào cách mạng ở Quảng Nam gặp muôn vàn khó khăn trước các chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng” của Mỹ - Diệm. Trong những khó khăn ác liệt ấy, Đảng kiên cường bám dân, dân vẫn một lòng tin yêu bảo vệ Đảng để giữ vững ngọn lửa đấu tranh.

Tinh gọn, bí mật

Sau Hiệp định Giơnevơ, thế và lực phong trào cách mạng đột ngột thay đổi: từ chỗ ta làm chủ một địa bàn rộng lớn, có cơ sở cách mạng đều khắp các vùng, phải bàn giao lại cho địch, chuyển lực lượng vũ trang đi tập kết; từ đấu tranh vũ trang, chuyển sang đấu tranh chính trị; hoạt động công khai phải chuyển vào hoạt động bí mật. Thời gian để chuyển hướng từ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp sang chống Mỹ hết sức cập rập, ở vùng du kích chỉ có 15 ngày, vùng tự do là 30 ngày.

Đầu tháng 8.1954, Tỉnh ủy Quảng Nam - Đà Nẵng triệu tập hội nghị mở rộng tại Chiên Đàn (nay thuộc xã Tam An, huyện Phú Ninh), hội nghị quyết định mở đợt tuyên truyền đường lối của Đảng đến cán bộ, nhân dân, làm cho cán bộ, nhân dân hiểu rõ thắng lợi của Hiệp định Giơnevơ và nhiệm vụ giai đoạn mới nhằm tạo ra khối đoàn kết để đối phó với các âm mưu thủ đoạn của địch. Tỉnh ủy giải thể bộ máy lãnh đạo trong kháng chiến và thành lập Tỉnh ủy mới gồm 5 đồng chí, do đồng chí Trương Chí Cương làm Bí thư, đồng chí Phan Tốn làm Phó Bí thư. Ở cấp thành phố, thị xã và các huyện mỗi cấp ủy được thành lập 5 - 7 đồng chí. Mỗi huyện thành lập 6 - 7 đoàn công tác phụ trách các khu vực. Cấp xã thành lập các chi bộ theo đơn vị làng cũ thời Pháp thuộc, mỗi chi bộ không quá 10 đồng chí, hầu hết là cán bộ, đảng viên đã được thử thách, có quá trình hoạt động và am hiểu tình hình địa phương.

Các tổ chức quần chúng được sắp xếp lại, chuyển thành các tổ chức hợp pháp. Ở nông thôn thành lập các nhóm phòng gian, chống cướp, tổ đổi công, vòng công, hội tương tế... Ở thành phố, thị xã có tổ chức nghiệp đoàn, phụ nữ, thanh niên, học sinh và tổ trung kiên làm nòng cốt trong các phong trào. Các cấp ủy Đảng ở địa phương chuẩn bị cơ sở có cảm tình hoặc có quan hệ với kháng chiến mà địch có thể chấp nhận để đưa vào bộ máy của địch, làm chính quyền “hai mặt” phục vụ cho phong trào cách mạng.

Đúng theo quy định, đến ngày 30.8.1954, các đơn vị bộ đội và một số ít cán bộ, học sinh đã tập kết về An Tân, huyện Tam Kỳ (nay thuộc huyện Núi Thành) để vào sông Vệ, Quảng Ngãi ra miền Bắc. Trong cảnh chia tay giữa người đi kẻ ở, cán bộ và nhân dân đều mong ước 2 năm sau sẽ được sum họp trong niềm vui thống nhất đất nước.

Mỹ - Diệm phá vỡ hiệp định

Trong lúc ta chuẩn bị chuyển quân tập kết và sắp xếp tổ chức, thì Mỹ - Diệm cấu kết với Quốc dân đảng, bọn lưu manh có hận thù với cách mạng ráo riết chuẩn bị chiến dịch tấn công đánh phá ta, nhằm hạ uy thế cách mạng bằng các cuộc khủng bố đẫm máu.

Tại Quảng Nam - Đà Nẵng, từ ngày 15.8.1954, địch triển khai lực lượng ở các huyện phía bắc; ngày 1.9.1954, chúng tập trung lực lượng tổ chức hành quân vào tiếp quản các huyện phía nam. Địch lập sẵn bộ khung chính quyền và đưa về các quận, dưới quận chúng thành lập cấp khu, dưới khu là cấp xã, trong thôn lập các tổ liên gia để quản lý chặt chẽ người dân. Mỗi khu đều có nhà giam. Địch mở các buổi mít tinh, tổ chức nhân dân học tập đề cao Ngô Đình Diệm là nhà chí sĩ yêu nước, nói xấu Chủ tịch Hồ Chí Minh, xuyên tạc đường lối cách mạng. Chúng lập danh sách và bắt đảng viên ra trình diện xuất thú, ai chưa ra trình diện, chúng dùng loa truyền thanh kêu gọi và cho người đến từng nhà bắt đi.

Thực hiện chủ trương “giết lầm hơn bỏ sót”, Mỹ - Diệm cấu kết với bọn phản động địa phương mặc sức bắn giết cán bộ và nhân dân. Chúng liên tiếp gây ra các vụ tàn sát đồng bào tại Hà Lam - Chợ Được (Thăng Bình), Chiên Đàn (Tam Kỳ), Cây Cốc (Tiên Phước)...; chúng truy tìm khủng bố trả thù những người kháng chiến cũ, gây nhiều vụ giết người trên sông Thu Bồn, Vu Gia, đập Vĩnh Trinh, Thạch Bàn, Khe Tre, động Hà Sống (Đại Lộc), biển Tam Hải... Đến ngày 14.11.1954, chưa đầy 3 tháng tiếp quản, bọn Mỹ - Diệm đã bắt tra tấn, giết hại hơn 300 cán bộ trong tỉnh…

Sang đầu năm 1955, sau khi đặt được bộ máy hành chính, Mỹ - Diệm bắt đầu thực hiện chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng”. “Tố cộng” là âm mưu lâu dài của Mỹ - Diệm nhằm tiến công tiêu diệt Đảng Cộng sản, xóa sạch mọi ảnh hưởng của Đảng trong dân. Chúng đưa về Quảng Nam - Đà Nẵng 300 tên công dân vụ, xây dựng các trại “cải huấn”, trại “tố cộng” từ tỉnh cho đến các khu hành chính. Không chỉ có đảng viên, cán bộ mà cả nhân dân cũng bị địch bắt đi học “tố cộng”.

Là người bám sát thực tiễn, biết dựa vào dân nắm được nhiều sơ sở nên trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, đồng chí Phạm Tứ (Mười Khôi) đã nhận định và đánh giá đúng âm mưu, thủ đoạn của địch. Đồng chí cho rằng, địch sẽ không thực hiện Hiệp định Giơnevơ và đồng thời báo cáo Liên Khu ủy xin chủ trương chôn cất vũ khí không chuyển ra Bắc, xây dựng hậu cứ ở các huyện miền núi Quảng Nam, tạo cho các huyện này luôn giữ được phong trào cách mạng và khi có điều kiện thì thành lập lực lượng vũ trang, làm hậu cứ, chỗ dựa phong trào cách mạng toàn tỉnh.

Sự trắng trợn vi phạm Hiệp định của Mỹ - Diệm làm cho phong trào trong tỉnh ngay từ đầu gặp rất nhiều khó khăn, nhất là các huyện phía nam. Số đảng viên, cán bộ hoạt động công khai trong kháng chiến, địch nắm được nên đánh trúng vào tổ chức của ta. Hệ thống tổ chức đảng vừa sắp xếp lại nhiều nơi chưa hoạt động đã bị tan rã; các đoàn cán bộ không bám được địa bàn, đường dây liên lạc bị đứt. Cán bộ quen hoạt động có vũ trang, giờ phải đối phó với địch bằng hai tay không nên hoạt động hết sức khó khăn. Một số ít cán bộ, đảng viên mất phương hướng bị địch bắt phải ly khai Đảng; số còn lại phải tiếp tục “lắng xuống” tìm cách bám phong trào duy trì sự lãnh đạo của Đảng.

(Còn nữa)

LÊ NĂNG ĐÔNG

.
.
.
.
.